Đạo quy Hội thánh Truyền Giáo và Pháp chánh truyền, Tân luật

  • Người khởi tạo QuanTriVien1
  • Ngày gửi

Trung ngôn

Active member
Xin tiếp tục quay lại điểm e, khoản 1, điều 15, mục 2 Ba quyền lập hội phần Thượng hội của Đạo quy 2007 HTTG CD
Điểm e này quy định Chức sắc Chưởng quản Cơ quan cơ Nữ phái tham gia trong thành phần Thượng hội.
Chúng ta cùng đối chiếu lại Pháp chánh truyền và Tân luật thì sẽ thấy, Nữ phái không được tham gia Thượng hội.
Cơ cấu tổ chức hành chánh Cửu trùng đài chỉ quy định cho nam phái và nữ phái y hành theo các hoạt động của Nam phái cho đến khi Hội thánh nữ phái lập thành.
Đây là vấn đề mà các nhà lập luật cần phải xem xét lại trước khi quyết định cho phép Nữ phái tham gia thành phần Thượng hội.
Nếu như điều 15 của Đạo quy của HTTG quy định như vậy thì cũng xem xét lại khi đưa cho Nữ phái tham gia hành chánh cùng Nam phái.
Không biết các Hội thánh khác có quy định Nữ phái cùng tham gia hành chánh với Nam phái không nhỉ (Tham gia Thượng hội)??
Kính lời học hỏi.
 
Sửa lần cuối:

Trung ngôn

Active member
Không ai tham gia diễn đàn này, chắc có lẽ các Hội thánh khác quy định người đứng đầu Nữ pháp không tham gia Thượng hội rồi.
Nếu được như vậy thì tốt quá.
Kính.
 

Trung ngôn

Active member
Kính Huynh tỷ đệ muội,
Cũng khá lâu rồi chưa tham gia bài viết trong chủ đề này, nay tiếp tục quay lại.
Chúng ta cùng xem Đạo quy của Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài và Pháp chánh truyền có một số điểm còn vênh.
Độ vênh này có hiểu với các lý do sau: Không biết trong quá trình xây dựng các điều khoản, thiếu hiểu biết về Pháp chánh truyền, thiếu hiểu biết về cách thức xây dựng luật, cố ý vi phạm Pháp chánh truyền, v.v.. Có nhiều lý do để biện hộ cho việc này; dù muốn dù không thì việc phạm Pháp chánh truyền cũng đã và đang diễn ra; đối với người này thì xem việc vị phạm là nhẹ hều, đối với người kia thì ngược lại.
Hy vọng khi tu chỉnh Đạo quy lần đến sẽ có những động thái tích cực, nếu không có sự đầu tư đúng tầm thì Đạo quy của Hội thánh này cũng sẽ như bao Hiến chương, Quy chế của các Hội thánh, tổ chức đạo khác sẽ phải thay đổi lòng vòng; nói vui là cứ đến kỳ tu chỉnh lại đổi.
Vì Đạo quy thể hiện đường lối hành đạo của một Hội thánh lại do cấp Hội thánh mới có quyền tu chỉnh; tuy nhiên, sau 2 lần tu chỉnh thì Đạo quy của Hội thánh này vẫn cứ lòng vòng như chưa hề có Đạo quy (năm 2011 là lần 3).
Việc này minh họa như sau: Đạo quy năm 2007 được phê chuẩn và công bố tại điều 78 nhưng lại không có một quyết định nào đóng dấu Hội thánh ban hành Đạo quy này (lưu ý dấu Hội thánh khác dấu Tòa nội chánh; đọc thật kỹ điều 47, 48 quy định về Ấn tín để biết thêm).
Việc này cũng có thể hiểu rằng Đầu sư chưa công bố luật như Hội Thánh cứ áp dụng và chẳng thấy ai nói gì trong suốt 5 năm vừa qua kể cả Hiệp thiên đài.
Tín đồ lại không có quyền gì khi không có điều khoản nào cho phép họ kêu nài về những việc đã nêu.
Các phẩm Giáo hữu, Giáo sư đã không làm tròn bổn phận của mình; Pháp chánh truyền cho phép 02 phẩm này "cầu chế giảm luật lệ" trong khi Hội thánh chưa tuân thủ Pháp chánh truyền thì các vị này lại không thực hiện đúng thì làm sao "cầu chế giảm" khi luật hà khắc đối với nhân sanh được.
Hiệp thiên đài cũng chưa thấy có một động thái nào rõ rệt cho việc bảo tồn pháp luật mà đài này được giao trọng trách lớn lao mà dường như yêm ẩm như Cửu trùng đài. Cười.
Cuối cùng nhân sanh phải tiếp tục chịu đựng; Hội thánh không đủ quyền pháp để đưa nhân sanh, Thầy và các đấng thiêng liêng đứng chờ đón mà chẳng thấy ai cả.
Công cuộc phổ độ của Thầy đã trễ nay càng trễ hơn.
Các Hội thánh khác cũng tương tự như vậy trong việc lập Hiến chương có nghĩa cũng phạm Pháp chánh truyền ở các lỗi giản đơn.
Ôi nghiệp lực của nhân sanh nặng nề lắm thay.
Nhân mùa chung niên sám hối, xin cùng nhau sám hối.
Cầu nguyện Thầy xá tội cho chúng đệ tử.
Khẩn cầu.
 
Sửa lần cuối:

Trung ngôn

Active member
Kính HTDM,
Vì TN ít học nên trình bày vấn đề nhảy cóc, lộn xộn nên mong mọi người bỏ qua.
Nay tiếp tục thảo luận về điều 44 của Đạo quy của HTTG và Pháp chánh truyền, Tân luật.
Điều 44 của Đạo quy như sau:

Điều 44. Trong mỗi Họ Đạo có các Ban Trị Sự.
1. Ban trị sự gồm các Chánh trị sự, các Phó trị sự và các Thông sự nam nữ; do nhân sanh công cử.
2. Ban trị sự có nhiệm vụ thực thi các đạo sự, chăm lo dìu dắt nhân sanh tu học, lễ bái trong phạm vi phụ trách.
Thành viên nào trong Ban trị sự không hoàn thành nhiệm vụ Hội Thánh xét bãi nhiệm.


Chúng ta cùng xem khoản 1 của điều này:
"Ban trị sự gồm các Chánh trị sự, các Phó trị sự và các Thông sự"
Ở đây, các nhà lập quy đã thêm từ "các" vào làm cho người thi hành có thể hiểu:
- Ban trị sự có nhiều Chánh trị sự, nhiều Phó trị sự và nhiều thông sự.
Xem ra, nếu có từ "các" thì khoản 1 đã vi phạm khi Pháp chánh truyền.
Việc này sẽ làm rối tung hoạt động của Ban trị sự khi có nhiều "ông Chánh trị sự"; thực tế thì không như vậy - tức là mỗi Xã đạo chỉ có 01 vị Chánh trị sự mà thôi.
Hy vọng từ "các" sẽ được các nhà lập quy xem xét trong lần tu chỉnh sắp tới. Đã khá lâu từ khi Đạo quy này ra đời nhưng Cơ quan bảo pháp vẫn "không thấy" được các lỗi cơ bản này để hiệu chỉnh - không thấy văn bản hướng dẫn cho các Họ đạo thực hiện trong quá trình thành lập Xã đạo cũng như công cử chức sắc tại Xã đạo.
Tiếp tục hy vọng vậy.
(tiếp theo sẽ xem xét cụm từ "nam nữ" trong khoản 1 này)
Kính lời học hỏi.
 

Trung ngôn

Active member
Kính HTDM,
Điều 44, khoản 1 ghi: " 1. Ban trị sự gồm các Chánh trị sự, các Phó trị sự và các Thông sự nam nữ;"
Chúng ta quan sát cách đặt câu từ, dấu câu trong điều khoản này sẽ nhận thấy có điểm chưa rõ ràng và dễ gây hiểu lầm không đáng có cho cấp dưới - thường là kẻ ít học hơn.
Theo cách nghĩ thông thường thì với khoản 1 trên ta sẽ thấy chỉ có phẩm Thông sự là có nữ.
Còn các giáo phẩm còn lại không có nữ.
Chắc hẳn đều khoản này mà làm đúng như quy định thì e rằng Nữ phái họ chẳng chịu đâu. Cười.
Cũng rất may cho cấp dưới là trong trường hợp này, các tín đồ lật Pháp chánh truyền thì có ngay được lời giải đáp cho vấn đề trên.
Hy vọng trong lần lập luật đến, các nhà lập quy để ý hơn khi quy định một điều khoản mang tính luật dưới Pháp chánh truyền thì cần rõ ràng hơn chứ đừng phải để tín đồ lật luật cơ bản (Pháp chánh truyền) ra mới hiểu được văn bản dưới luật (tức Đạo quy) quy định gì!!!
Cách làm này người đời gọi là "ngược" vậy.
Có lẽ một lúc nào đó vấn đề này sẽ được chỉnh sửa cho hoàn chỉnh; hy vọng không quá 700 ngàn năm, cười.
Hy vọng vẫn mãi là hy vọng.
Kính lời học hỏi.
Lần đến sẽ quan sát nghĩa do "do nhân sanh công cử." này quy định.
 

Trung ngôn

Active member
Kính HTDM,
Chúng ta tiếp tục xem ý nghĩa của cụm từ : "do nhân sanh công cử".
Do cụm từ này đặt sau dấu chấm phẩy nên ý nghĩa thật rõ ràng; có nghĩa là Ban cai quản do nhân sanh công cử.
Mới xem qua thì thấy có lý, lật Pháp chánh truyền ra thì thấy chẳng sai.
Tuy nhiên, các nhà lập quy đã không tiên liệu được là nhân sanh có nhiều kẻ ít học nên nghĩ ra nhiều cách làm từ cách lập quy như vậy.
- Có ý kiến cho rằng: Ban trị sự [1] do nhân sanh công cử thế cho nên ở Xã đạo, nhân sanh lại bầu một Ban trị sự có 9 vị (lấy ví dụ). 9 vị này sẽ là thành viên trong Ban trị sự.
Từ 9 vị này sẽ bầu ra 4 vị Thông sự, 4 vị Phó trị sự và 1 vị Chánh trị sự.
Biên bản được lập và chuyển về Hội thánh xem xét và ra quyết định.
Hiệp thiên đài xem xét hồ sơ và chuyển qua Cửu trùng đài ra quyết định. Tùy vào giáo phẩm mà Nhị đài có quyết định cho đúng.
Hội thánh cứ thế y hành ban quyết định.
Mới xem qua tóm tắt như trên thì thấy mọi việc ổn thỏa.
Nhưng xem kỹ thì không ổn như đã thấy.
Lật lại Pháp chánh truyền thì thấy quy định:
Phẩm Phó trị sự do nhân sanh công cử.
Phẩm Thông sự do nhân sanh công cử.
Phẩm Chánh trị sự do các Phó trị sự và Thông sự trong xã đạo công cử; và có các Chánh trị sự của các xã đạo còn lại dự chứng.
Nếu là người có học và thông hiểu về luật sẽ hiểu ngay vấn đề; còn người ''ưa cãi" thì cho rằng "chẳng có chi khác" trong cách đã làm.
(còn nữa)
 
Sửa lần cuối:

Trung ngôn

Active member
Kính HTDM,
Xin được tiếp tục.
Sẽ không có gì xảy ra tiếp sau đó khi không có chữ "nếu". Các nhà làm luật thường dùng từ "nếu" để cùng nhau tiên liệu các tình huống chưa xảy ra; sau khi đã dự liệu đầy đủ thì có câu chữ đừng quá đa nghĩa hay đừng quá xúc tích để trình bày văn bản luật mà kẻ thừa hành chỉ cần đọc thì có thể hiểu và làm đúng ngay; tránh cách dùng "cái ngã của chúng sinh" tha hồ luận rồi làm theo ý của mình "cho khỏe".
Không có từ nếu khi người thừa hành làm đúng.
Và bây giờ chúng ta cùng xem những vấn đề đã xảy ra (có thể tìm xem hồ sơ ở bất kỳ họ đạo nào) - không cần từ nếu nữa:
Trường hợp một vị Thông sự không làm tròn bổn phận, sai quy phạm giới, không biết nửa chữ luật lệ, v.v..
Tín đồ không vừa lòng khi được dẫn dắt, bảo hộ bởi vị Thông sự này; nhưng không biết làm sao cho đúng luật đạo:
- Tín đồ không thể yêu cầu bãi nhiệm vị Thông sự này do có ai được bầu đích danh giáo phẩm này đâu (do bầu chung một nhóm người có tên Ban trị sự).
- Hội thánh không thể nào miễn nhiệm hay bãi nhiệm khi không quy định về nhiệm kỳ của các thành viên Ban trị sự - Xem đạo quy để biết thêm (giáo quyền - xin không nhầm lẫn giáo phẩm và giáo quyền).
- Hội thánh khó mà bãi nhiệm hay miễn nhiệm khi mà Giáo phẩm này do Hiệp thiên đài ký quyết định và không có sự đồng thuận của Đài này. Cho dù có sai lè lè đi nữa.
- Các thông sự khác không biết cách để ghi một biên bản nữa chứ đừng nói là căn ngăn hoặc giảng giải luật cho đúng thì làm sao làm một biên bản ghi nhận sự việc đúng sau của đương sự. Minh tra thì lại không biết cách lập một hồ sơ. Cười.
- và nhiều trường hợp khác nữa.
Vậy cái "có khác chi đâu" trong cách thực hiện công cử như đã dẫn ở trên khi xảy ra, cho dù tỷ lệ ít nhưng đã làm cho cơ quan trọng yếu của đạo là Hiệp thiên đài hoặc Minh tra bổng dưng bị tê liệt trong các trường hợp đã dẫn.
Thực tế đã xảy ra khi có nơi phẩm của Ban trị sự "đứng yên" suốt gần 30 năm vẫn không thể nào thay đổi.
Hệ lụy xảy ra: Các giáo phẩm lên cũng không được, xuống cũng cũng không xong.
Chưa kể cản đường tiến hóa của các phẩm Phó trị sự, Thông sự tranh cử Chánh trị sự; con đường của kẻ "nhiều hạnh" (tức Lễ sanh) cũng á khẩu.
Đạo cũng là một dòng chảy, cho nhân sanh theo đó mà lên đường.
Hy vọng cách lập luật thiếu tiên liệu như đã thấy sẽ được các nhà lập luật giải quyết trong lần tu chỉnh Đạo quy tới đây.
Dĩ nhiên, nếu không có kiến thức cơ bản về luật thì TN nghĩ sẽ phải gặp lại văn bản luật quy định lòng vòng, thậm chí vô hiệu khi vừa ký ban hành (như đã dẫn trước đây).
Dẫu sao cũng "đỡ" hơn một số Hiến chương, v.v. đã bác luôn cả Pháp chánh truyền, Tân luật; không thừa nhận pháp môn "thông công".
Nói như vậy cũng đã bị liệt vô hàng "ba phải" rồi, cười.
Luật hay Pháp: chỉ có một, không có hai.
Dẫu sao cũng còn hy vọng.

TN xin dừng tham gia chủ đề này do nhận thấy trong tình trạng hiện nay, các vấn đề như đã nêu chưa thể thay đổi được. Có lẽ phải chờ khoảng 30 năm nữa khi mà Giáo hội có trường lớp dạy dỗ cho cấp chức sắc nhỏ nhất là Chánh trị sự, Phó trị dự, Thông sự một cách đầy đủ và chính thống.
Như vậy là lạc quan lắm rồi, cười.
Kính lời học hỏi.
 
Sửa lần cuối:

Vien Linh

New member
TN xin dừng tham gia chủ đề này do nhận thấy trong tình trạng hiện nay, các vấn đề như đã nêu chưa thể thay đổi được. Có lẽ phải chờ khoảng 30 năm nữa khi mà Giáo hội có trường lớp dạy dỗ cho cấp chức sắc nhỏ nhất là Chánh trị sự, Phó trị dự, Thông sự một cách đầy đủ và chính thống.
Như vậy là lạc quan lắm rồi, cười.

Kính huynh TN
Trong những hàm phẩm tôn giáo chỉ có giá trị khi tài năng và sự tận tụy phải được thể hiện nhiều hơn đạo chúng , Trong thực tế hiện nay , để tìm những con người ấy cho cấp xã đạo rất là hiếm hoi . Để cho đủ số lượng nên phải chấp nhận 1 sự ô hợp không thể tránh khỏi , đại đa số đương chức mà giống như hàm phong ...Âu cũng là thiên định !

Thiên định để làm chất liệu cho ...ai đó... nở hoa ; thế nên xin huynh hãy coi đó là những chất liệu cần thiết của bùn đen cho sự tiến tu không mệt mõi của mình

Không riêng gì cái cấp cỏn con là xã đạo , chất thánh trong những anh lớn cũng bị mài mòn bởi chức quyền trong giáo hội , thế mới biết cái danh lắm lúc nguy hiểm và nặng nề không thua gì sắc dục ; Chúng không là ba đào nhưng đã nịch biết bao người

Chúng mình , huynh TN ạ , đâu phải tu cho ai đâu , mình tu cho mình nên cần phải biết biến dịch , biến những thị phi làm những bài học về chữ NHẪN thì ...may lắm thay ...cho bản thân mình và ...may lắm thay cho giáo hội

Khi chấp nhận cái " có lý" thì cũng nên chấp nhận luôn cả những điều "vô lý" : Chúng ta chỉ có bổn phận làm cho những điều vô lý kia thành hữu lý ...để tính nhất nguyên định hướng cho mọi nhận định trên con đường tu học , tri kiến này còn phải giãi thoát nữa là ...bao điều phiền toái hôm nay phải không huynh ,

Cơ đạo hôm nay , có người nói luật" ơn huệ " sẽ lơn hơn luật" nhân quả " . Đây là cơ hội cho chúng ta được tu học trong Hồng Ân của Thầy Mẹ ở thời điểm cuối kỳ mạt pháp hôm nay

Xin được siết chặt tay huynh trong niềm tin yêu về nền ĐẠI ĐẠO
 
BÀI NẦY TÔI ĐÃ POST HÔM QUA CHẲNG BIẾT SAO MÀ HÔM NAY KHÔNG THẤY NÊN POST LẠI.​

DIỄN ĐÀN TÌM HIỂU ĐẠO CAO ĐÀI. ĐỀ TÀI THẢO LUẬN.

Ðề tài:
Đạo quy Hội thánh Truyền Giáo và Pháp chánh truyền, Tân luật.​

Ngày 01-5-2010 hiền Trung Ngôn (TN) có bài sau:​

Nguyên văn bởi Phụng Thánh

3.- Đạo Cao Đài xem cơ bút cầu tại Cung Đạo Đền Thánh Tây Ninh là tuyệt đối. NHƯNG, điều này chưa áp dụng thì cơ Đạo Cao Đài không sao phát triển.

Thưa Quý huynh tỷ,

Lại có một đề xuất, một lần nữa, cho việc xem cơ bút cầu tại "Cung đạo Đền Thành Tây Ninh là tuyệt đối" trong Đạo Cao Đài.

- Nếu như Huynh đề xuất, vậy liệu rằng đề xuất của Huynh có "loại trừ các Thánh ngôn" không có xuất xứ từ "Cung Đạo Đền Thánh Tây Ninh" không ??? Có loại trừ Pháp chánh truyền và Tân luật hay không - bởi vì 02 văn bản này không có xuất xứ từ Cung đạo Đền Thánh Tây Ninh??

Nếu bằng cách này để chỉ ghi nhận Thánh ngôn tại Cung đạo Tòa Thánh Tây Ninh thì Hiến chương 2007 đã làm việc này (loại trừ) rồi.

- Nếu đề xuất này kể từ bây giờ thì chắc hẳn Hội thánh này (có trụ sở tại Tòa Thánh Tây Ninh) phải sửa đổi Hiến chương để ghi nhận Pháp chánh truyền và Tân luật làm nền tảng pháp lý cho các văn bản luật thứ cấp. Theo đó bộ phận Thông công phải được hình thành.

Đã khá lâu rồi, Hiệp thiên đài của Hội thánh này không thừa nhận các chức sắc coi về bí pháp thông công này được lập, nên Ơn trên có lệnh cũng không biết phải lấy ai làm "tướng soái"; dù có "tương soái" để thông công đi nữa thì phần chức sắc và tín đồ còn lại cũng không chịu vì tự cho rằng "đã bế cơ" nên không thừa nhận cơ bút (có thể hiểu là tự mình "trói tay chân của mình" bằng chính văn bản của mình lập).

Mong muốn chỉ dừng lại ở mong muốn do chưa có giải pháp rốt ráo.

Tiến thoái lưỡng nan cho đề xuất của Huynh Phụng Thánh.

Tuy nhiên, Đạo Thầy vẫn tiếp tục mở rộng và phổ độ liên tục vì là đấng Giáo chủ nên Thầy đã có
"Nãi nhật nguyệt tinh thần chi quân,
Vi Thánh, Thần, Tiên, Phật chi chủ."

nên Thầy có thể:
"Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hóa"
và "Vô vi nhi dịch sử quần linh" (Bài kinh Ngọc Hoàng Bửu cáo).

Xin Quý huynh tỷ khác cũng đừng lo lắng quá cho Thầy, nên lo cho mình kẻo "trể con đò chiều", 700 ngàn năm sau không biết có lại hay không hay chỉ có duy nhất lần này thôi?!
Kính.
&&&&&​


Kính hiền TN.

Kính hiền Phụng Thánh.

Câu viết của hiền Phụng Thánh có 02 vế.

Vế đầu: Đạo Cao Đài xem cơ bút cầu tại Cung Đạo Đền Thánh Tây Ninh là tuyệt đối. Liên quan đến pháp luật ĐĐTKPĐ

Vế sau: NHƯNG, điều này chưa áp dụng thì cơ Đạo Cao Đài không sao phát triển. Nó thuộc chủ quan của hiền Phụng Thánh.

Do vậy Tôi chỉ xin phép tham gia vào vế đầu còn vế sau xin miễn.

Là một phần tử của ĐĐTKPĐ Tôi xin phép trả lời một số câu hỏi của TN:

CÂU 1.​

- Nếu như Huynh đề xuất, vậy liệu rằng đề xuất của Huynh có "loại trừ các Thánh ngôn" không có xuất xứ từ "Cung Đạo Đền Thánh Tây Ninh" không ??? Có loại trừ Pháp chánh truyền và Tân luật hay không - bởi vì 02 văn bản này không có xuất xứ từ Cung đạo Đền Thánh Tây Ninh??

TRẢ LỜI.​

Thưa hiền TN và quí vị quan tâm đến đề tài.

Theo thiễn nghĩ để trả lời câu hỏi nầy có 02 cách:

Cách một: Ngắn gọn trong một trang giấy nhưng không phải ai cũng hiểu được.

Cách hai: Trình bày một vài thực tế trong đời sống tự nhiên, trong sự thành lập và phát triễn một vài tổ chức. Nêu một vài sự thật mà ĐĐTKPĐ đã trãi qua để làm căn cứ hay pháp lý cho phần trả lời. Cách nầy như một lời mời gọi người nêu câu hỏi, người quan tâm đến đề tài đặc vấn đề kế tiếp nếu xét thấy chưa tỏ rõ.

Thời internet nhân loại bước vào toàn cầu hóa có muốn che dấu sự thật thì cũng bị lôi ra ánh sáng. Tốt nhất là biết sao cứ trình bày hết rồi hiểu sao tùy người đọc.
Tôi xin chọn cách thứ hai.

I- Quan sát sự phát triển của động vật.

1- Con gà và cái trứng gà.

Con gà đẻ ra trứng gà, trứng gà lại nở ra con gà. Vậy con gà có trước hay cái trứng có trước là một cuộc tranh cãi vô tận nên không bàn ở đây. Tôi chỉ trình ra điều hiển nhiên để phục vụ bài viết.

Theo tự nhiên gà mẹ phải ấp trứng mấy chục ngày trứng mới khẻ mỏ rồi mới có gà con ra khỏi vỏ.
Ngày nay con người dùng lồng ấp trứng, đủ ngày gà con vẫn khẻ mỏ rồi chui ra khỏi vỏ.
Như vậy dù bằng cách nào thì trước khi chuyển giai đoạn sống từ cái trứng sang đời sống con gà tất yếu phải qua giai đoạn khẻ mỏ. Trứng nào không khẻ mỏ là trứng ung.

Cái sống của con gà khởi từ cái trứng gà.

Khi đã khẻ mỏ chui ra khỏi trứng là bắt đầu một qui trình sống mới thì không thể trở lại sống trong quả trứng được nữa.

2- Thai bào và hài nhi.

Con người trước khi chào đời thì phải ở trong thai bào. Đến ngày tháng thì ra khỏi thai bào mà bước vào đời sống mới của một hài nhi. Đời sống mới bắt nguồn từ thai bào nhưng khi đã là hài nhi thì cuộc sống khác hẳn với thời gian trong thai bào từ cách ăn, cách thở….

Đã là hài nhi thì không thể trở về thai bào được nữa.
Giai đoạn nào có cách sống và phát triễn của giai đoạn đó.


II- Bài học từ xã hội.​

1- Khi người anh hùng Lê Lợi nổi lên kháng chiến chống giặc Minh thì khởi đầu ở trong thôn xóm. Quân lính ít người thì chắc chắn là không có phân chia bộ binh, thủy binh, kỵ binh… không đặc ra quân phong quân kỷ. Đến khi lực lượng mạnh lên quân số đông đảo tiếng tăm lừng lẫy trong cả nước, mọi người tìm theo thì những anh hùng nầy mới được phân chia ra nào là bộ binh, thủy binh, kỵ binh…

Quân phong quan kỷ từ chổ chưa có giờ trở thành nhu cầu bức thiết quyết định cho sự thành bại của nghĩa binh. Kỷ luật là sức mạnh của quân đội nên không có quân phong quân kỷ thì đó chỉ là đoàn quân ô hợp làm gì có sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng.

Khi chưa thắng được giặc Minh, chưa xây dựng được triều đình thì từ thủ lĩnh đến những người cộng tác ngồi trên lưng ngựa, bưng biền mà ra quyết sách. Phong thưởng cho người hửu công cũng đâu có bày ra nơi chốn công đường mà chỉ là trong doanh trại.

Khi đã thắng được giặc Minh thì mới thiết lập triều đình, xây dựng cung điện.

Kể từ đó anh hùng Lê Lợi xưng vương, lập ra quan chức và các định chế xã hội…Bảo nhà vua ra bưng biền và núi rừng Lam Sơn mà làm việc thì chắc là bị chém bay đầu.

Vị thế thay đổi thì cách hành xử cũng thay đổi mang tính tiến bộ hơn để phù hợp với qui luật phát triễn.

2- Gần đây trong cuộc chiến tranh 1954-1975 ở Việt Nam khi lực lượng cách mạng chưa chiếm được chính quyền thì ở chiến khu, ở rừng núi, ở các địa đạo….

Đến khi cách mạng giải phóng xong miền Nam chiếm được chính quyền thì mới thiết lập chế độ. Khi đã thiết lập chế độ thì chính phủ sinh hoạt phải khác với thời kháng chiến.

Cách mạng vẫn là cách mạng nhưng cách thức sinh hoạt đã khác. Các vị phải làm việc tại trụ sở. Sinh hoạt tại trụ sở có qui định khác với sinh hoạt ở chiến khu, ở rừng núi.

Sinh hoạt ở trụ sở hành chánh chắc chắn phải có nguyên tắc hành chánh hơn thời ở chiến khu.

3- Rút ra nhận xét.

Qua 02 sự thật vừa trình bày ta rút ra được nhận xét rằng:

+ Sinh hoạt của bất cứ tổ chức nào cũng đi từ chổ chưa có tổ chức đến có tổ chức. Từ tổ chức đơn sơ (chưa hoàn thiện) đến chặc chẽ (hoàn thiện).

+ Sự tiến bộ là nấc thang vô tận nên không ngừng thay đổi. Mổi sự thay đổi đánh dấu sự tiến bộ, văn minh. Sự tiến lên bắt đầu từ suy nghĩ của một người (hay vài người cùng ý tưởng) rồi trình ra cho nhiều người biết và định hướng cho xã hội.

(CÒN TIẾP)
 

DIỄN ĐÀN TÌM HIỂU ĐẠO CAO ĐÀI. ĐỀ TÀI THẢO LUẬN.

Ðề tài: Đạo quy Hội thánh Truyền Giáo và Pháp chánh truyền, Tân luật.


TRẢ LỜI
tiếp theo câu hỏi Ngày 01-5-2010 hiền Trung Ngôn​

III- Thầy lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là lập Quốc Đạo.

Chữ Quốc Đạo có nhiều ý nghĩa sâu xa nhưng thiết tưởng có thể hiểu nền đạo được tổ chức theo qui luật của một quốc gia như: có hiến pháp (PCT), có pháp luật, có bộ máy nhân sự hành chánh, có nơi chốn làm việc… như một một quốc gia hiện đại để thực thi tôn chỉ của đạo là một trong những ý nghĩa thực tế.

1- Những văn bản liên quan đến Quốc Đạo.

1.1- Ngày 13-8- Bính Dần (1926) Đức Chí Tôn dạy:

“Từ đây trong nước Nam duy có một Đạo chơn thật là Đạo Thầy đã đến lập cho các con, gọi là “QUỐC ĐẠO” hiểu à!
Thầy buộc các con hiệp chung trí mà lo vào đó, nghe à!”
.

(TNHT Q2 tr 46 dòng 18-22. Bản in 1973)​

Tính ra bài nầy dạy trước ngày khai đạo gần tròn 02 tháng.

Sau đó Thầy cho Quốc Trưởng Bảo Đại bài thi có câu:

Quốc Đạo kim triêu thành Đại Đạo.
Nam Phong thử nhựt biến Nhơn Phong.​

1.2- Đức Lý Đại Tiên dạy (Đạo Sử Q2 tr 222- Bản in Hoa Kỳ):

dạy chư Chưởng Pháp, Đầu Sư phải sắm ấn.
Chưởng Pháp thì mộc phải làm tròn như con dấu thường, đề chung quanh vòng ngoài chữ Lang Sa: Amnistie de Dieu en Orient, vòng trong đề chung quanh: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chữ Nho; Thoàn thì khắc giữa một Bình Bát Vu; Đạo thì Cây Phất Chủ; Nho thì Bộ Xuân Thu.
Ấn của Đầu Sư cũng vậy, song chính giữa đề chữ Thái; Thượng; Ngọc đem vào Toà Luật cầu chứng cho khỏi mạo nhận..


1.3- Lời phê Đức Hộ Pháp:

…“Còn nay thì Hội Thánh Phước Thiện đã thành lập, Đạo Cao Đài thành Quốc Đạo thì khuôn luật buột ràng không còn như trước nữa đặng.
Cả Chức Sắc Cửu Trùng Đài hay Phước Thiện cũng là một vị quan lại của Chánh Trị Đạo, hể phạm tội thì án luật định hình không ai tránh khỏi đặng.
Như thế mới trừ đặng cái hại: Mượn danh đạo tạo danh mình, nương bóng đạo đức lợi cho mình”...


1.4- Thực tế tôn giáo.

Nhân lực trong tôn giáo dù ở hàng phẩm nào cũng có văn bút thừa nhận. Em bé sơ sinh có Giấy Tắm Thánh; Đạo Hữu thì có giấy nhập môn; Chức Việc; Chức Sắc khi thăng phẩm hay bổ nhiệm…. nhất nhất đều có bút tích công nhận theo đúng qui định trong hành chánh tôn giáo.

2- Thời cúng ở Đền Thánh.

Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q 2 bài cuối Đức Lý Giáo Tông cho biết: …Nay vì lễ Đạo-Triều, nên đến chúc-mừng chư Hiền-hữu…

Kinh Thiên Đạo Và Thế Đạo Bài Xưng Tụng Công Đức Phật Tiên Thánh Thần (câu 5-6):

Trên điện ngọc vua trời ngự giáng,
Trước đền vàng phán đoán phân minh.​

Xét ra cũng cùng ý rằng: nơi cõi thiêng liêng vẫn có triều nghi.

Bài kinh nhập hội câu 4:

Thiêng liêng các đấng lập triều trị dân​

Thể hiện rằng ĐĐTKPĐ nơi cõi thế cũng vẫn có triều nghi.

Quan sát thời cúng ở Đền Thánh ta thấy có phân phẩm bậc, có qui định riêng cho Chức Sắc Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài…

Đây là điều mà buổi đầu lập đạo chưa thể hiện nhưng trong quá trình hoàn chỉnh đã thể hiện.
Vậy người có lòng với tôn giáo muốn giử sự thể hiện triều nghi theo qui cách ĐƯỢC HỘI THÁNH CẬP NHẬT nay hay trở lại với thời mới lập đạo?

Chắc chắn là môn đệ Thầy muốn theo qui cách ĐƯỢC HỘI THÁNH CẬP NHẬT.

(CÒN TIẾP CÂU 4:
IV- Cơ bút trong xã hội và trong ĐĐTKPĐ.).​
 
DIỄN ĐÀN TÌM HIỂU ĐẠO CAO ĐÀI. ĐỀ TÀI THẢO LUẬN.

Ðề tài: Đạo quy Hội thánh Truyền Giáo và Pháp chánh truyền, Tân luật.

Tiếp theo câu III.​

IV- Cơ bút trong xã hội và cơ bút trong ĐĐTKPĐ.

1- Sơ lược về cơ bút trong xã hội.

Cơ bút là phương tiện mà nhân loại dùng để thông công với thiêng liêng. Cơ bút đã lưu hành trong xã hội trước khi Thầy hoằng khai ĐĐTKPĐ. Cơ bút là một phương tiện thông công với thế giới vô hình mà cả nhân loại đều có quyền dùng.

Nhưng khi Thầy dùng cơ bút để hoằng khai ĐĐTKPĐ thì Thầy có qui định riêng cho các môn đệ NGAY TỪ BUỔI ĐẦU TIÊN.

Xin trích dẫn sơ lược để chúng ta có cái nhìn tổng quát.

2- Qui định về cơ bút trong ĐĐTKPĐ.

Người theo ĐĐTKPĐ có quan tâm đến cơ bút đều thuộc nằm lòng câu: Cơ bút có thể tạo đạo thì cơ bút cũng có thể diệt đạo của Đức Hộ Pháp dạy.

2.1- Trước ngày khai đạo: Muốn chấp cơ phải đợi lịnh Thầy.

Lúc đầu là xây bàn sau đến tiểu ngọc cơ và đại ngọc cơ, chúng tôi gọi chung là cơ bút.
Đồng tử muốn cầu Thầy phải ăn chay…
.
Ngày 03-1-1926 thầy dạy về Thủ cơ- chấp bút:

Trước khi thủ cơ hay là chấp bút, thì phải thay y phục cho sạch sẽ, trang hoàng tắm gội cho tinh khiết; rồi mới đặng đến trước Bửu- Điện mà hành sự, chẳng nên thiếu sót mà thất lễ. Nếu chấp cơ phải để ý thanh bạch không đặng tưởng đến việc phàm. Tay chấp cơ cũng phải xông hương khử trược, tịnh tâm một lát, rồi phải để tinh thần tấn mà xuất ngoại xác đến hầu dạy việc. Phải có một chơn-linh tinh tấn mới mầu nhiệm huyền diệu; phải trường trai mới đặng linh-hồn tinh tấn; phải tập tánh chí Thánh, Tiên, Phật mới phò cơ dạy đạo cả chúng sanh. Kẻ phò cơ chấp bút cũng như Tướng-Soái của Thầy để truyền Đạo cho thiên hạ. Các con đừng tưởng việc bút cơ là việc tầm thường.
….Vậy khi nào chấp cơ phải đợi lịnh Thầy rồi sẽ thi hành.


Khi đàn cơ chưa được thiết lập thì Thầy làm sao ra lịnh chấp cơ?
Hẳn nhiên là Thầy động tâm cho Đồng Tử hay là trong đàn cơ có trước đó Thầy sẽ định ngày giờ, địa điểm cho đàn cơ mới.

Dù đàn cơ ở đâu thì người chấp cơ vẫn phải là đồng tử mà Thầy đã chọn. Trong số các đồng tử được Thầy chọn cũng phân ra trách nhiệm từng cặp cơ: một cặp cơ phong thánh, nhiều cặp cơ phổ độ….dĩ nhiên địa điểm cầu cơ không cố định.

Ngày 14-1-1926. Ông Đốc Bản (Đoàn Văn Bản) thấy sự huyền diệu cơ bút mới xin làm đồng tử; Thầy cho thi:

Bút nở mùa hoa đã có chừng,
Chẳng như củi mục hốt mà bưng…

Bên dưới có chú thích:

Ông Ðốc Bản xin chấp bút, Thầy cho bài thi nầy ám chỉ Thầy định cho ai thì nấy đặng, chớ không phải ai cũng có thể cầu cơ chấp bút đặng.

2.2- Sau ngày khai đạo.

Dĩ nhiên các đồng tử được Thầy chọn vẫn tiếp tục nhiệm vụ được giao. Địa điểm thường là ở Gò Kén. Sau đó thì dời về Tòa Thánh hiện nay. Tòa Thánh buổi đầu làm tạm nhưng vẫn có làm Hiệp Thiên Đài tạm để làm nơi cầu cơ.

+ TNHT Q2 trang 38 dòng 02 (bản in 1963) Thầy dạy ngày 01-5-1927 (Đinh Mão):

Còn tới cuối kỳ tháng 6 nầy thì Thầy phải ngưng hết cơ-bút truyền Đạo, các con sẽ lấy hết chí-thành đã ung-đúc bấy lâu mà lần-hồi lập cho hoàn-toàn mối Đạo.

+ TNHT Q2 trang 41 dòng 07 (bản in 1963) Thầy dạy ngày 01-10-Đinh Mão (1927):

Các con, kỳ ngưng cơ phổ-độ đến nay, chưa được bao lâu, mà nền Đạo xảy ra lắm điều trắc-trở...

Cả hai lần Thầy đều dạy rõ là ngưng cơ bút truyền đạo (cơ phổ độ). Còn cơ phong thánh, cơ lập thánh Thầy không có dạy ngưng.

Nhiều người không biết do vô tình hay cố ý cứ hô hoán lên là Thầy đã ngưng cơ bút rồi nên không nhìn nhận các đàn cơ sau đó. Ấy là tự mình chác lỗi và làm cho người tin mình bị lỗi theo.

Thầy cho biết có tà quái lẫn lộn trong môn đệ hằng lấy danh Thầy mà cám dỗ thông qua cơ bút.

+ TNHT Q2 tr 48 (bản in 1963) ngày 03-02-1928.

Các con đã từng nghe lời Thầy khuyên nhũ về chuyện ngừa cơ-bút, thế mà một phần chẳng chịu sửa cải đường ngay cho khỏi lâm vào nẻo tà-mị, đã vi lịnh Thầy mà dìu-dắt các con lạc bước. Thầy cũng đại lụy mà ngó xem một phần môn-đệ xứng-đáng của Thầy phải sa vào vực-thẳm.

Các con nên ghi nhớ mà coi chừng đường lối sau nầy.

Thầy đã chỉ rõ quanh-co, thì khá liệu chừng mà bước tới, tâm bền dạ vững, kính mến Thầy, là yêu-dấu Thầy đó, nên nghe à. …

…. C..., Thầy cấm từ đây chẳng nên lấp-lửng cầu-cơ hay chấp-bút chi, vì là một sự hại lớn-lao cho Đạo. Đả phá đức tín-ngưỡng của chúng-sanh, lại làm cho nhơn-sanh bị nhơ-trược.


+ Đức Lý Giáo Tông dạy ngày 1-8-1931- Tân Mùi- Bản in 1963:

…Ngày nay đã hành chánh thì cũng nên lập mình cho đủ tư cách một người cầm sanh mạng của nhơn loại…(TNHT Q2. tr 82 dòng 26-27).

…Hiền hữu biết rằng trong trận trí binh nầy, nếu không đủ tài tình oai dõng thì chẳng hề thắng đặng… (TNHT Q2. tr 83 dòng 04-06.).

+ Ngày 01-11-1932 Ngài Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh gởi thư cho Ông Thái Ca Thanh ở cầu Vỹ Mỹ Tho.

Ông Ca được phong phẩm Phối Sư và được Đức Lý Giáo Tông giao cho việc lập ra Chương Trình Hiến Pháp ngày 14-7- Mậu Thìn (1928).
Đây là văn bản rất quan trọng, can hệ đến danh hiệu ĐĐTKPĐ trong thất ức niên, nhưng sau đó ông Ca cầu cơ riêng để học hỏi và chính cơ bút riêng nầy đã dụ dẫn ông theo đường tà quái.

Trong thư Ngài Thượng Tương Thanh có đoạn:

Tôi có đọc kỷ và cũng có đọc lại các Thánh Giáo, Thánh Ngôn Anh gởi mấy lần trước, Tôi thấy rõ là một cuộc khảo do nơi Tam Trấn để cho Tà Thần mượn tên cám dỗ…..
Thầy đã dạy: Đạo khai tà khởi, nó cũng dám lấy tên Thầy mà cám dỗ lựa là Tiên Phật nên Thầy đã căn dặn ngoài Thập Nhị Thời Quân của Thầy đã chọn đừng vội tin Thầy có giáng nơi nầy, nơi nọ mà phải lầm mưu tà quái cám dỗ.


+ Ngày 03-11-1932 Ngài Ngọc Chánh Phối Sư kiêm chủ Trưởng Chức Sắc Nam Phái có gởi thư cho Chư Đầu Họ, Tỉnh và Quận Đạo bày tỏ ý kiến về lá thư của Ngài Thượng Tương Thanh.

Các ý kiến tỏ ra trong thơ ấy đều hạp với ý kiến của Tôi,…

Sơ lược như thế để hiểu rằng Hội Thánh ĐĐTKPĐ qui định về cơ bút rất nghiêm nhặc; cốt yếu là ngăn chận tà quái mượn danh Thầy mà cám dỗ môn đệ của Thầy vào vòng tội lỗi. Nghĩa là ngăn chận phần hại của cơ bút trong nền đạo.

2.3- Thời kỳ Đức Hộ Pháp bị Pháp đày đi Madagascar.

Năm 1941 Pháp bắt Đức Hộ Pháp và một số chức sắc khác đày đi Madagascar (Phi Châu).
Thời gian nầy Pháp chiếm Tòa Thánh và hầu như toàn bộ các cơ ngơi của đạo ở Đông Dương.
ĐĐTKPĐ lâm vào tình trạng nguy cấp.

Trong cơn nguy cấp một số chức sắc Hiệp Thiên, Cửu Trùng hiệp nhau ở Kiêm Biên cầu cơ xin chỉ dạy. Đức Lý Giáo Tông và Đức Quyền Giáo Tông về cơ dạy hiệp tác với Nhựt lập Nội Ứng Nghĩa Binh đảo chánh Pháp….

Các vị tin vào cơ bút chỉ dạy và quyết chí làm theo nên lập được công lớn.
Các đàn cơ giai đoạn nầy được lập ở nhiều nơi và có sự tham gia của Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng. Ngài được ban dây sắc lịnh nên vẫn có giá trị pháp lý theo PCT chú giải:
.hễ mỗi Chức Sắc Hiệp Thiên Đài mang dây sắc lịnh vào mình mà hành chánh nơi nào, thì phải tuân mạng, dầu lỗi quấy cũng phải chìu theo, chỉ để cho Hội Thánh có quyền định tội,…

Đức Hộ Pháp và Hội Thánh sau nầy cũng không có văn bản nào khiển trách các vị về các đàn cơ liên quan.

2.4- Sau khi Đức Hộ Pháp từ Madagascar về.

Năm 1946 Pháp đưa Đức Hộ Pháp về Tòa Thánh. Cơn nguy cấp đã qua. ĐĐTKPĐ trở lại với nề nếp về cơ bút đã được lập thành.

Nhiều người trưng các đàn cơ học hỏi riêng từ bên ngoài để trình với Hội Thánh.

Thí dụ như Ông Trung Uý Tường xin phần đất thổ cư ở từ trước đến giờ chưa có đơn xin và tại nhà nầy kêu là Minh Trước Đàn để cho Sỉ quan cầu cơ học hỏi từ Trung Uý đổ xuống.

.
LỜI PHÊ ĐỨC HỘ PHÁP:

Chúng ta không biết thọ mạng lịnh chi của Đức Thanh Sơn. Nếu Ngài không giáng cơ công khai nơi Cung Đạo Đền Thánh trước Thánh thể Đức Chí Tôn thì ta không nhìn nhận Minh Trước Đàn.

Còn Tường muốn xin đất thì buộc tuân y pháp luật của Hội Thánh; cho hay chăng do quyền Hội Thánh.
HỘ PHÁP
(Ấn Ký).

Cơ bút học hỏi riêng bên ngoài nở rộ, Đức Hộ Pháp cầm giềng mối đạo lại là người từng trãi về cơ bút nên Ngài nhứt định áp dụng qui định dùng cơ bút đã ban hành. Ngài có bút phê, văn bản giải thích rõ.
Chúng tôi xin trích đoạn 02 văn bản điển hình.
&&&

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ.
Nhị Thập Lục Niên.
TÒA THÁNH TÂY NINH.

Ngày 16-2-Tân Mão (dl 23-3-1951).
HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng​

Gởi cho cả Chức sắc Thiên phong HTĐ.
Cơ Bút là một cơ quan thuộc Huyền Linh Pháp nên vẫn là hư hư thiệt thiệt, vì bất kỳ mọi sự chi mà có tánh phàm của con người hùn vốn vào đó đều giả nhiều mà thiệt ít.
Cơ Bút đã đủ quyền lập Đạo đặng thì nó cũng đủ quyền diệt Đạo đặng.
Vì cớ mà Đức Chí Tôn đã cấm Cơ Bút Phổ Độ.

Một điều nguy hiểm nhứt là Cơ Bút có quyền phong cho một tên cùi phung ăn xin nơi giữa chợ ngồi địa vị Giáo Tông hay là Hộ Pháp đặng, thì ta là người giữ gìn chơn pháp lại càng phải oai nghiêm lắm lắm mới đặng.

Bần đạo đã xét nét cùng các Đấng và Thánh Lịnh số 6/PC thì làm cho chúng ta phải lưỡng lự.

Nếu dùng oai nghiêm mà trị giả dối đã đành, còn thoảng như rủi gặp thiệt, ta mới tính sao?

Bần đạo đã có giải rõ những đồng cốt là khí cụ có thể là của Trời dùng mà cũng có thể là của Quỉ hại. Đồng cốt giả, với Bần đạo, Bần đạo dám cho nó giả, vì cái giả của nó, Bần đạo sẽ có đủ phương làm ra có thiệt. Còn các bạn tu và em út ta nó có đặng như Bần đạo đâu mà Bần đạo dám cả gan để cho họ bị hại vì cái giả của đồng cốt.

Đã bàn luận xong cùng các Đấng, nên Bần đạo quyết định như vầy:

Y như Bần đạo đã định khi trước, là ai cũng đặng tự do dùng Cơ Bút mà học hỏi lấy mình mà thôi, còn cấm nhặt không đặng truyền bá.
….
Thi hành Chánh pháp cho nghiêm nhặt.

Bất kỳ Cơ Bút nào mà ra lịnh cầm quyền Hội Thánh, không có mặt đủ Thiên phong Nhị Hữu Hình Đài và nơi Cung Đạo Đền Thánh, xuất hiện thì ra lịnh bắt đồng tử và kẻ nghịch tuyên truyền giam lại, rồi đem ra Pháp Chánh kết án trục xuất ra khỏi Đạo.

Bảo Thế xem rồi lập Thánh Lịnh lại đưa cho Bần đạo ký.

Ký tên và đóng ấn:
PHẠM CÔNG TẮC.
&&&​

VĂN BẢN THỨ NHÌ.​

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ.
Nhị Thập Lục Niên.
TÒA THÁNH TÂY NINH.​
SỐ 21/TL.
THÁNH LỊNH
HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng.​

Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền,
Chiếu y Đạo Luật ngày 16-1-Mậu Dần (dl 15-2-1938) giao Quyền Thống Nhứt Chánh Trị Đạo cho Hộ Pháp nắm giữ cho tới ngày có Đầu Sư chánh vị,
……
THÁNH LỊNH​
.

Điều thứ nhứt: Mỗi người trong bổn đạo được phép dùng Cơ Bút học hỏi riêng mà thôi, nhưng cấm bặt truyền bá ra ngoài.

Điều thứ nhì: Sự truyền bá ra ngoài có nghĩa là: Chép Thánh Giáo của người học hỏi riêng rồi phân phát ra cho người khác xem, hoặc tuân hành theo.

Điều thứ ba: …..

Điều thứ tư: Bất kỳ Cơ Bút nào mà ra lịnh cho cầm quyền Hội Thánh, không có đủ mặt Thiên phong Nhị Hữu Hình Đài và nơi Cung Đạo Đền Thánh xuất hiện thì Hội Thánh liền ra lịnh bắt đồng tử và người tuyên truyền Cơ Bút ấy giam lại, rồi đưa nội vụ ra Pháp Chánh kết án trục xuất ra khỏi Đạo.
.....
Tòa Thánh, ngày 22-2-Tân Mão (dl 29-3-1951).
HỘ PHÁP (ấn ký)

&&&​

(CÒN TIẾP)

CÂU V: Giải pháp rốt ráo.​
 


TRẢ LỜI HIỀN TN.​

(tt câu IV)​

V- Giải pháp rốt ráo hay câu trả lời minh bạch.

Qua 04 phần trình bày về trên đây thiết tưởng đã đủ cơ sở để trả lời minh bạch và rốt ráo câu hỏi hiền TN đặc ra bên trên.

1- Các Thánh Ngôn của Thầy và các Đấng Thiêng Liêng dạy trước ngày khai đạo, và sau ngày khai đạo ở Gò Kén như: chọn đồng tử, phong phẩm tước cho các vị tiền khai, ban cho Pháp Chánh Truyền, Tân Luật, dạy mua đất và xây dựng Tòa Thánh, …đều ra đời trước khi lập nên Cung Đạo nơi Tòa Thánh Tây Ninh.

Trong đặc quyền thông công trực tiếp của Đức Hộ Pháp có khi Ngài được dạy trực tiếp rồi viết thẳng ra mà không lưu lại dấu tích về ngày tháng, địa điểm. Chứng cứ là PCT chú giải phần Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự và Thông Sự không có trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đạo Sử…mà vẫn đầy đủ giá trị pháp lý.

Đó là cơ bút tạo đạo (không có thì Đạo không nên hình tướng).

Cơ bút giai đoạn nầy đã được Hội Thánh ĐĐTKPĐ tuân y để lập nên ĐĐTKPĐ, Hội Thánh đã thi hành từ thử thì toàn thể tín đồ của ĐĐTKPĐ đều nhìn nhận và tôn trọng.

2- Khi Hội Thánh nên hình, lập ra hành chánh tôn giáo, xây dựng xong tòa nhà đạo pháp, trong đó có lập ra cung đạo để tổ chức đàn cơ trong hành chánh tôn giáo thì đã ra văn bản qui định rõ ràng về đồng tử, địa điểm, cách thức lập một đàn cơ:

+ Phải ở cung Đạo.

+ Có đầy đủ các thành phần tham dự theo qui định.

Do vậy từ đó ĐĐTKPĐ không nhìn nhận bất cứ một đàn cơ nào không đủ tiêu chuẩn trên.

Đó là pháp lý rốt ráo của ĐĐTKPĐ về cơ bút liên quan đến hành chánh (cầm quyền) trong tôn giáo.

Các vị thời quân (là đồng tử được Thầy chọn) mà cầu cơ ở Giáo Tông Đường, Hộ Pháp Đường…. vẫn ở vào diện học hỏi riêng không có giá trị pháp lý trong hành chánh tôn giáo. Chính các vị cũng không ký tên đem ra cho bên hành chánh thực thi.

Còn đàn cơ ở tư gia hay các nơi khác được tự do cầu, tự do học nhưng không có giá trị pháp lý trong hành chánh tôn giáo và cũng cấm truyền bá.

3- Tại sao chỉ nhìn nhận cơ bút liên quan đến việc cầm quyền đạo tại nơi cung Đạo?

Hội Thánh và Đức Hộ Pháp dạy rất rõ ràng: Không để cho tà quái dùng cơ bút mà diệt ĐĐTKPĐ. (1).

Đó là cách trí binh thể hiện thao lược của người cầm giềng mối đạo mà xây dựng một thế giới đại đồng trên nền tảng Bác Ái Công Bằng.

&&&&&​

(1): Đó là qui định trong nội bộ ĐĐTKPĐ (là cái nhánh do chính mình Thầy làm chủ) chớ không nói chung cho Đạo Cao Đài hay trong xã hội.
&&&&​

(CÒN TIẾP CÂU HAI).​
 
CÂU 2.​

Hiền TN viết:

Nếu bằng cách này để chỉ ghi nhận Thánh ngôn tại Cung đạo Tòa Thánh Tây Ninh thì Hiến chương 2007 đã làm việc này (loại trừ) rồi.

- Nếu đề xuất này kể từ bây giờ thì chắc hẳn Hội thánh này (có trụ sở tại Tòa Thánh Tây Ninh) phải sửa đổi Hiến chương để ghi nhận Pháp chánh truyền và Tân luật làm nền tảng pháp lý cho các văn bản luật thứ cấp. Theo đó bộ phận Thông công phải được hình thành.

Đã khá lâu rồi, Hiệp thiên đài của Hội thánh này không thừa nhận các chức sắc coi về bí pháp thông công này được lập, nên Ơn trên có lệnh cũng không biết phải lấy ai làm "tướng soái"; dù có "tương soái" để thông công đi nữa thì phần chức sắc và tín đồ còn lại cũng không chịu vì tự cho rằng "đã bế cơ" nên không thừa nhận cơ bút (có thể hiểu là tự mình "trói tay chân của mình" bằng chính văn bản của mình lập).

TRẢ LỜI.​

Đoạn nầy liên quan đến ĐĐTKPĐ và hiến chương 1997, 2002, 2007 của một pháp nhân khác.

Qua đây Tôi nhận thấy hiền TN không hiểu rằng 02 pháp nhân:

+ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ gọi tắt là Đạo Cao Đài. (danh hiệu đầy đủ có 06 chữ, gọi tắt 03 chữ).

+ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Cao Đài Tây Ninh, gọi tắt là Đạo Cao Đài Tây Ninh. (danh hiệu đầy đủ có 10 chữ, gọi tắt có 05 chữ).

Là 02 pháp nhân riêng biệt.

Đây là 02 tổ chức khác nhau mà hiền lại hiểu là một nên dẫn đến hiểu lầm.

Một người thích logic học và áp dụng để phê bình nhiều người là suy luận thiếu logic mà hiểu về 02 pháp nhân trên đây như thế thì việc áp dụng logic học vào trường hợp nầy có vấn đề gì chăng?

Đếm chữ hai cái tên cũng thấy nó khác nhau cơ mà.

Tôi sẽ nói sâu phần lầm lẫn của hiền TN về 02 pháp nhân nầy trong bài VỀ HIẾN CHƯƠNG 1965.

Tôi xin phép hiền TN sẽ trả lời đoạn trên chung với bài ngày 08-05-2010 của hiền nêu ra về hiến chương 1965 cũng chung trong đề tài nầy.

Nay kính.

HẾT PHẦN VỀ CƠ BÚT TẠI CUNG ĐẠO.​
 
DIỄN ĐÀN TÌM HIỂU ĐẠO CAO ĐÀI.
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN.

Ðề tài: Đạo quy Hội thánh Truyền Giáo và Pháp chánh truyền, Tân luật.

Kính BQT trang web.
Kính quí vị quan tâm đến đề tài.

Ngày 08-5-2010 hiền Trung Ngôn có viết:

Nguyên văn bởi Phụng Thánh
Hiện nay, mỗi Hội Thánh đều có Hiến Chương hay Đạo Luật (nếu sai danh từ xin chỉ giáo) riêng,
Theo thiển ý , đây là lá chắn để tiến tới Một Giáo Hội Cao Đài Duy Nhứt mà tôi có dịp đọc qua.
Nguyên văn bởi Phụng Thánh
&&&​

Thưa Huynh Phụng Thánh,

Huynh biết rằng Hiến chương và Đạo luật của các Hội thánh, tổ chức Cao Đài là "lá chắn để tiến tới Một Giáo hội Cao Đài Duy Nhất".
Vậy theo Huynh, ở góc độ tín đồ, làm sao để các "lá chắn" này trở thành các nất thang để đưa nhân sanh "lên đàng" ???

Các lá chắn được lập ra bởi các Hội thánh, nếu lấy Pháp chánh truyền và Tân luật làm nền tảng để xây dựng thì chắc hẳn các "tường rào" đó sẽ không còn tác dụng.

Câu "phạm Pháp chánh truyền" và "đọa tam đồ bất năng thoát tục" vẫn còn đó.
&&&​

Quay lại Hiến chương 1965, chúng ta xem:
ĐIỀU THỨ 25.- Để áp dụng Hiến Chương nầy, bản Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Đạo Luật và Kinh Lễ được coi là quy chế có tánh cách Nội Qui.

Xem ra, Pháp chánh truyền và Tân luật của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà Hội thánh này "đưa vào" chỉ dừng lại ở mức độ "Nội quy" mà thôi.

Nếu chỉ dừng ở mức Nội quy như điều 25 đề cập thì Pháp chánh truyền và Tân luật chỉ ở mức thứ yếu (không muốn nói là dưới cả Hiến chương này); không đủ sức làm căn cứ để định đoạt một tổ chức và hoạt động của một Giáo hội Cao Đài chứ đừng nói là thống trị về mặt "đạo đức' cho cả địa cầu này.

Hy vọng với đà tăng dân trí như ngày nay, ước chừng khoảng hơn 20 năm nữa, các chức sắc đương thời lúc này sẽ cẩn trọng hơn khi lập Hiến chương, Đạo luật, Đạo quy, v.v. nếu không muốn "phạm luật cơ bản".

Hơn nữa, kỳ vọng vào một bản Hiến chương 1965 đã không còn hiệu lực pháp luật (như đã nói) thì khó mà định hướng cho Hội thánh Tây Ninh ngày nay trên đường bảo vệ nhân sanh.
Kính.
&&&​

Kính quí vị.
Tôi là một phần tử của ĐĐTKPĐ muốn tham gia làm rõ đoạn văn (liên quan đến hiến chương 1965) trên mà nó dài quá (và có một số đoạn không tiện thảo luận công khai trên trang web) nên xin phép rút một đoạn về hiến chương 1965 ra và chia làm 02 đoạn như sau:

ĐOẠN 1:

Câu "phạm Pháp chánh truyền" và "đọa tam đồ bất năng thoát tục" vẫn còn đó.
&&&
Quay lại Hiến chương 1965, chúng ta xem:

ĐIỀU THỨ 25.- Để áp dụng Hiến Chương nầy, bản Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Đạo Luật và Kinh Lễ được coi là quy chế có tánh cách Nội Qui.

Xem ra, Pháp chánh truyền và Tân luật của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà Hội thánh này "đưa vào" chỉ dừng lại ở mức độ "Nội quy" mà thôi.

Nếu chỉ dừng ở mức Nội quy như điều 25 đề cập thì Pháp chánh truyền và Tân luật chỉ ở mức thứ yếu (không muốn nói là dưới cả Hiến chương này); không đủ sức làm căn cứ để định đoạt một tổ chức và hoạt động của một Giáo hội Cao Đài chứ đừng nói là thống trị về mặt "đạo đức' cho cả địa cầu này.

ĐOẠN 2:
Xin được phép chia thành 02 đoạn nhỏ:

2.1- Hy vọng với đà tăng dân trí như ngày nay, ước chừng khoảng hơn 20 năm nữa, các chức sắc đương thời lúc này sẽ cẩn trọng hơn khi lập Hiến chương, Đạo luật, Đạo quy, v.v. nếu không muốn "phạm luật cơ bản".

2.2- Hơn nữa, kỳ vọng vào một bản Hiến chương 1965 đã không còn hiệu lực pháp luật (như đã nói) thì khó mà định hướng cho Hội thánh Tây Ninh ngày nay trên đường bảo vệ nhân sanh.
&&&

Theo Tôi phân đoạn như vậy không làm sai lạc ý chính.
Nhưng để cho minh bạch xin quí hiền cho ý kiến nếu không đồng ý phân đoạn như vậy
Rất mong chúng ta cùng hợp tác nhau làm rõ vấn đề rất tế nhị nầy.
Kính.

&&&
Tiện đây xin trình về câu:
các chức sắc đương thời lúc này (ở đoạn 2.1) theo Tôi hiểu là hiền TN nói đến các chức sắc năm 2010 là thời điểm hiền TN viết.

Nếu không đúng xin hiền TN vui lòng cho biết cụ thể là chức sắc Hội Thánh nào?
&&&
(còn tiếp).​
 

TRẢ LỜI HIỀN TN VỀ HIẾN CHƯƠNG 1965.
Của Hội Thánh ĐĐTKPĐ​

(TIẾP THEO PHẦN TRÊN).​

ĐOẠN I:​

Hiền TN viết:
Quay lại Hiến chương 1965, chúng ta xem:

ĐIỀU THỨ 25.- Để áp dụng Hiến Chương nầy, bản Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Đạo Luật và Kinh Lễ được coi là quy chế có tánh cách Nội Qui.

Xem ra, Pháp chánh truyền và Tân luật của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà Hội thánh này "đưa vào" chỉ dừng lại ở mức độ "Nội quy" mà thôi.

Nếu chỉ dừng ở mức Nội quy như điều 25 đề cập thì Pháp chánh truyền và Tân luật chỉ ở mức thứ yếu (không muốn nói là dưới cả Hiến chương này); không đủ sức làm căn cứ để định đoạt một tổ chức và hoạt động của một Giáo hội Cao Đài chứ đừng nói là thống trị về mặt "đạo đức' cho cả địa cầu này.

TRẢ LỜI:​

Để tiện việc thảo luận xin trình bày 03 phần:

+ Trình bày khái quát về Hiến chương 1965 (HC 1965) và điều 25 trong HC 1965.

+ Trả lời 02 đoạn văn của hiền TN như đã thỉnh ý bên trên.

+ HC 1965 và Hội Thánh Ban Chỉnh Đạo Bến Tre.

Thưa với chư quí vị quan tâm đến đề tài.

Lời Phật dạy được gọi là kinh mà Ngài còn muốn chúng sanh hiểu như một chiếc bè, nó giúp hành giả qua sông rồi thôi đừng có vác bè trên vai mà đi. Văn bút của thường nhơn đang học đạo như chúng ta kém xa lời Phật muôn vạn lần thì hẳn nhiên phải có sai sót.

Trong bàn luận có khi phải chẻ sợi tóc làm 4 làm 8… để hiểu cho chính xác nhưng rốt lại thì phải nhìn vào cái tâm ý người viết để thương yêu và quí trọng bạn đồng sanh, đồng đạo để cùng nhau tiến bộ.

Trời thương yêu tất cả chúng sanh, không hề trừng phạt đứa con nào cho dù nó hư hỏng phản nghịch lại Ngài nên mới là ĐẠI TỪ PHỤ. Trời mở ĐĐTKPĐ biết con cái còn mang xác phàm, còn thất tình lục dục loạn động nên mới dạy: Không thương được thì cấm ghét…

Cho dù chúng ta chưa cùng ngồi chung với nhau trong một tổ chức tôn giáo nhưng vẫn khắc ghi lời Thầy dạy: Vào vòng huynh đệ khá thương nhau….làm căn bản.

Đó là tâm ý của Tôi khi tham gia trang web.

Phần bàn luận về bài của TN là muốn: thông hiểu và quí trọng nhau để cùng tiến bộ trên đường phụng sự vạn linh, thực thi tam lập: lập công, lập đức, lập ngôn.


PHẦN MỘT.​

1- Khái niệm về Hiến chương. (Hiến chương là gì?)

Có con người rồi mới có xã hội. Có xã hội rồi mới có pháp luật. Nên pháp luật phải thay đổi theo tài nguyên và môi trường sống của nhân loại. Pháp luật thời văn minh công nghiệp không thể theo kịp thời văn minh điện tử….

Hiến chương là sản phẩm của nhân loại ra đời vào thời kỳ đã thành lập quốc gia xã hội theo quan niệm hiện đại trước khi bước vào thời toàn cầu hóa.

Trong thời toàn cầu hóa theo chổ hiểu của Tôi thì hiến chương có nhiều diện. Trong khuôn khổ bài nầy có thể liệt kê 03 diện: quốc gia, quốc tế và quốc gia với đoàn thể hay tổ chức trong quốc gia.

- Diện quốc gia: Hiến chương của quốc gia là những điều luật cơ bản làm nền tảng cho việc chế định ra pháp luật.

Thí dụ điển hình: Thời Việt Nam Cộng Hòa sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ thì Tướng Nguyễn Khánh ký Hiến chương Vũng Tàu (16-8-1964).

Hiến chưong tệ hại nên Nguyễn Khánh bị đã đảo. Ngày 25-8-1964 Nguyễn Khánh phải bãi bỏ Hiến Chương Vũng Tàu.

- Diện quốc tế: Là điều ước ký kết giữa nhiều nước qui định những nguyên tắc và thể lệ về quan hệ quốc tế.
Thí dụ HC Liên Hiệp Quốc.

- Diện thứ 3: Chánh phủ ký kết với các đoàn thể, tổ chức đặc biệt để công nhận Hiến chương của họ đệ trình. Diện nầy gắn liền với Sắc lệnh ban pháp nhân.

Hiến chương 1965 nằm trong diện thứ ba.

Trong một quốc gia thì con người sinh ra là một công dân (thể nhân hay pháp nhân) nhưng chưa đầy đủ. Khi đến tuổi qui định, tự chịu trách nhiệm về những hành vi của mình trước xã hội là công dân (thể nhân hay pháp nhân) đầy đủ.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (ĐĐTKPĐ) là một tôn giáo gồm nhiều người có pháp nhân đầy đủ và chưa đầy đủ nhưng lại không đủ thành tố để được coi là một công dân (pháp nhân) trong quốc gia đó. Người trong tôn giáo không phải chỉ trong một quốc gia mà còn có những tín đồ từ quốc gia khác. Như vậy tôn giáo là một người đặc biệt hiểu theo nhiều ý nghĩa từ bên trong và bên ngoài.

Sắc lệnh ban pháp nhân cho ĐĐTKPĐ có nghĩa là nhìn nhận ĐĐTKPĐ có quyền hạn và trách nhiệm như một công dân trong xã hội. Công dân ĐĐTKPĐ không phải là một con người bằng xương bằng thịt nên là một công dân đặc biệt. Công dân đặc biệt ĐĐTKPĐ sinh hoạt (hành xữ) theo hiến chương đệ trình.

Hiến chương là khuôn thước chuẩn thằng để ĐĐTKPĐ căn cứ vào đó mà đối nội hay đối ngoại.

Đối nội ĐĐTKPĐ đã có pháp luật, giáo lý, kinh điển, tổ chức tôn giáo… làm mực thước.

Đối ngoại có thể kể một số diện điển hình:

+ Với công dân trong quốc gia đã ban pháp nhân, công dân ngoài quốc gia ban pháp nhân và những công dân đặc biệt khác được ban pháp nhân hay chưa được ban pháp nhân.

+ Với chính phủ (ban pháp nhân) thì ĐĐTKPĐ căn cứ vào hiến chương mà hoạt động để không vi phạm pháp luật đời và đời có muốn vi phạm vào ĐĐTKPĐ cũng không được.

+ Khi ĐĐTKPĐ có mặt ở quốc gia khác (hay những tổ chức quốc tế) thì ĐĐTKPĐ cũng căn cứ vào hiến chương để thể hiện một số quyền hạn và trách nhiệm đặc biệt như công dân của quốc gia sở tại theo thông lệ và luật định.
Chính phủ ban pháp nhân thì chính phủ cũng có quyền thu hồi pháp nhân hay thay đổi khi cần.

(Xem bài Thế nào là Pháp nhân? Khóa Hạnh Đường Lễ Sanh năm 1973, phần Luật Pháp, bài số 20 của Hội Thánh ĐĐTKPĐ).

Pháp nhân của ĐĐTKPĐ liên quan đến nhiều triệu người nên thay đổi hay hủy bỏ là việc rất phức tạp và khó khăn.

(Lưu ý rằng chủ quyền của ĐĐTKPĐ có trước rồi mới có việc chính phủ ban pháp nhân cho ĐĐTKPĐ. Chủ quyền của ĐĐTKPĐ độc lập với việc chánh phủ ban pháp nhân. Chánh phủ ban pháp nhân là để công nhận trách nhiệm và quyền hạn ĐĐTKPĐ như một công dân về một số phương diện nào đó mà thôi.
Chính phủ đã ban pháp nhân có thu hồi pháp nhân [hay một chính phủ khác không công nhận pháp nhân đã được chính phủ trước đó ban cho] đi nữa thì chủ quyền ĐĐTKPĐ vẫn không bị mất, chỉ thay đổi hình thức, phạm vi giao dịch với chính quyền mà thôi).

Theo wiki thì Hiến chương Liên Hiệp Quốc là Hiến pháp của Liên Hiệp Quốc.

Nhưng hiến chương 1965 của ĐĐTKPĐ chắc chắn không phải là hiến pháp của ĐĐTKPĐ.

Tóm lại: Chính phủ ký sắc lệnh ban pháp nhân là chính phủ nhìn nhận ĐĐTKPĐ là một công dân đặc biệt.
Công dân đặc biệt ĐĐTKPĐ có đủ quyền đối nội và đối ngoại theo khuôn khổ hiến chương.

&&&​

(CÒN TIẾP SỐ 2: Giá trị của hiến chương 1965.
 


TRẢ LỜI HIỀN TN
VỀ HIẾN CHƯƠNG 1965.​

(TIẾP THEO BÀI TRƯỚC: KHÁI NIỆM VỀ HIẾN CHƯONG).​

2- Giá trị chung của hiến chương 1965 (HC 1965).​

Tôn chỉ của ĐĐTKPĐ:
- Để vớt những kẻ hữu phần vào nơi địa-vị cao thượng, tránh khỏi số mạng luân hồi.
- Nâng những người có tánh đức, hiền lương bước vào cõi nhàn, ra khỏi cảnh hèn khó ở nơi trần thế.

(TNHT Q1 tr 69. Bản in 1973)​

Muốn thực thi được tôn chỉ trên tự thân đạo phải có đường lối chánh trị đạo sáng suốt và hành chánh đạo nghiêm minh. Muốn vậy phải căn cứ vào chánh giáo của Thầy làm chuẩn mực.

Đức Chí Tôn có dạy: …Đạo và chính trị chẳng có buổi liên hiệp cùng nhau…

Do vậy mà những bậc tiền bối lãnh nhiệm vụ khai mở ĐĐTKPĐ đã gặp khó khăn rất nhiều trên đường thực hiện tôn chỉ và pháp luật đạo. Con thuyền đạo lắm khi bị pháp luật đời thúc phược không xông pha nơi khổ hải để phổ độ chúng sanh được như ý.

Ngày 21- 01- 1965 (19-12-Giáp Thìn), Hội Thánh ĐĐTKPĐ tại Tòa Thánh Tây Ninh gởi đơn lên Chính Phủ đương thời đề nghị công nhận ĐĐTKPĐ có Tư cách Pháp nhân, kèm theo đơn là Bản Hiến Chương.

Ngày 12-07-1965, Chính Phủ ra Sắc Luật số 003/65, cho phép ĐĐTKPĐ hoạt động theo đúng Hiến Chương đính kèm và công nhận Tư cách Pháp nhân của ĐĐTKPĐ.

***: Những điều trông thấy
sau khi ĐĐTPĐ có pháp nhân.

Dĩ nhiên trước khi có HC 1965 thì ĐĐTKPĐ vẫn tuông pha nơi khổ hải độ rỗi nhơn sanh nhưng với pháp luật đời thì bị ràng buộc theo dụ dành cho các hiệp hội. Một tôn giáo mang tính toàn cầu mà phải sinh hoạt theo qui chế dành cho các hiệp hội (buôn bán, thể thao…) khác nào người bị lột da xoay trở rất khó khăn.

+ Phước Thiện đã bị chính quyền Pháp nghi kỵ và muốn tiêu diệt như thế nào người đạo đã biết qua lời thuyết đạo của Đức Hộ Pháp. Khi có HC 1965 thì Phước Thiện được hoàn toàn sinh hoạt theo Đạo Luật Mậu Dần (1938). Hằng loạt cơ sở lương điền, công nghệ của Phước Thiện ra đời, có đầy đủ pháp lý với đời mà chẳng cần có một giấy phép con nào hết.

+ Tài sản của ĐĐTKPĐ bị khó khăn trong việc tự đứng tên như thế nào trong Đạo Luật Mậu Dần (1938) còn ghi lại đó.
Kể từ có HC 1965 thì khó khăn như thế không tồn tại.

Do nơi HC 1965 ban quyền cho ĐĐTKPĐ được trực tiếp đứng tên động sản và bất động sản nên hậu duệ của Ngài Thượng Tương Thanh (thế danh Nguyễn Ngọc Tương) mới kiện đến chính quyền đòi chủ quyền đất ở Thánh Địa vào thập niên 70 của thế kỷ 20.

Do đâu mà Ngài Thượng Tương Thanh đứng tên đất đạo?

Do Đạo nghị định thứ 4 (1930) điều thứ 4 qui định:

Thượng Chánh Phối Sư, đặng quyền thay mặt cho toàn Ðạo mà giao thông cùng Chánh Phủ và cả Tín đồ, quyền giáo dục nhơn sanh do nơi tay người nắm, làm Chủ Tọa Hội Nhơn Sanh.

Ngài Thượng Tương Thanh là Chánh Phối Sư Phái Thượng nên được quyền thay mặt cho đạo để giao thông với chánh phủ Pháp. Đồng thời đứng bộ song cước với Bà Lâm Ngọc Thanh làm chủ sở đất Thánh Địa 96 ha, để cất Tòa Thánh tại Xã Long Thành, Tây Ninh. Ông cũng đứng bộ làm chủ cả đất điền của Đạo nơi Thánh Thất địa phương.

Hậu duệ của Ngài căn cứ vào chổ Ngài đứng tên sổ bộ đất Thánh Địa nên kiện ra Tòa đời để đòi chủ quyền (96 mẫu 67 sào).

Tòa Án thời Đệ Nhị Cộng Hòa đã thụ lý và mở phiên Tòa xét xử.

Kết quả: Toà Sơ Thẩm và Thượng Thẩm tại Sài Gòn xử hậu duệ của Ngài Tương thua kiện.
Nguyên đơn đã thượng tố lên Tối Cao Pháp Viện (vi bằng Hội Nhơn Sanh năm Giáp Dần- 1974 trang 50)

+ Sau HC 1965 Hội Thánh ĐĐTKPĐ nhiều lần mở Đại hội Nhơn sanh mà chẳng cần phải xin phép. Thậm chí đời đổi ngày giờ cũng là tự thân đạo chớ chánh quyền chẳng thể xen vô (Đại hội Nhơn Sanh năm 1974 Hội Thánh tự dời ngày là một điển hình).

+ Hội Thánh tự tổ chức cầu phong, cầu thăng; tự bổ nhiệm người hành đạo từ trung ương đến địa phương mà không gặp một khó khăn nào.

+ Hằng ngàn thanh niên không muốn đi lính cho Việt Nam Cộng Hòa, không muốn cầm súng ra chiến trường đã vào Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh, vào các cơ sở đạo ẩn mình mà chính quyền không thể vào lục soát để bắt đi quân dịch.

[[[***: Nếu không có tư cách pháp nhân theo HC 1965 thì Hội Thánh ĐĐTKPĐ chỉ được sinh hoạt theo qui chế chung cho các hiệp hội; chịu chi phối của các Dụ mà thôi.

Cụ thể là Dụ số 10 ngày 06- 08- 1950. Sửa đổi bởi Dụ số 24 ngày 19- 11- 1952 và Dụ số 06 ngày 03- 04- 1954 ấn định quy chế Hiệp Hội.

Các Dụ trên thúc phược ĐĐTKPĐ như thế nào người quan tâm đến pháp lý đạo trước xã hội đã từng biết.
Kể từ ngày được ban pháp nhân thì ĐĐTKPĐ hoạt động theo HC 1965 (là hiến chương riêng cho ĐĐTKPĐ). Điều 04 sắc luật 003/65.

ĐIỀU THỨ 4-
Dụ số 10 ngày 6 tháng 8 năm 1950 ấn định Quy chế Hiệp Hội và các Luật Lệ trái với Sắc Luật nầy, không áp dụng cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Sắc Luật nầy sẽ đăng vào Công Báo Việt Nam Cộng Hòa.]]]

HC 1965 đem lại sự thuận lợi cho ĐĐTKPĐ là SỰ THẬT HIỂN NHIÊN.

Quan sát và để tâm đến pháp lý của ĐĐTKPĐ trước chính quyền đời qua các thời kỳ đến khi có HC 1965 ví như khe nước nhỏ rồi ra suối, ra sông… và hòa nhập cùng đại dương mênh mông. Khi nó đã mang tính chất của đại dương thì không có ai thúc phược cánh chim bằng trong chiếc lồng nào được nữa.

Nhìn chung HC 1965 đã là định lý pháp lý căn cơ để mở rộng con đường thực thi chánh giáo của ĐĐTKPĐ qua Chánh Trị Đạo và Hành Chánh Đạo.

Đó là nhận định của chúng tôi về HC 1965.

&&&​

(CÒN TIẾP: SỐ 3- GIÁ TRỊ ĐIỀU 25 TRONG HC 1965)​
 
(TIẾP THEO CÂU SỐ 2)​

3- Giá trị riêng của điều 25 trong HC 1965.​

Bây giờ xin bàn riêng về điều 25 trong HC 1965.

Nguyên văn điều 25 trong Hiến chương 1965:

Để áp dụng Hiến Chương nầy, bản Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Đạo Luật và Kinh Lễ được coi là quy chế có tánh cách Nội Qui.

Theo Tôi hiểu đây là điều mở trong HC 1965.

Mở như thế nào?

Căn cứ theo điều 25 thì ĐĐTKPĐ có đầy đủ quyền tự chủ thực hiện tất cả những điều có trong Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Đạo Luật và Kinh Lễ mà không cần phải xin bất cứ một loại giấy phép con nào. Không cần phải chờ đợi ý kiến của bất cứ cấp chánh quyền nào hay viên chức nào hết.

Một khi đã thực thi thì chính quyền các cấp không có lý do gì để không thừa nhận hay gây khó dễ. Sắc lệnh ban pháp nhân là của chính phủ thì dĩ nhiên là có giá trị trong phạm vi lãnh thổ chánh phủ đương quyền.

Nó như một cánh cửa huyền diệu để ĐĐTKPĐ được tự do thực thi chánh trị đạo, hành chánh đạo…. mà không bị chi phối bởi chính quyền.

Đoạn …là quy chế có tánh cách nội qui có 08 chữ mà giá trị giống như cái cổng mở lên trời. Mở được cổng trời thì mới thấy được bầu trời bao la không có giới hạn, có giới hạn chăng là do tầm mắt người nhìn mà thôi. Tại sao dám ví như vậy?

Bởi vì Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Đạo Luật, Kinh Lễ là những hòn đá tảng để hình thành và phát triễn ĐĐTKPĐ. Nó mạnh đến nổi nhấc bổng địa cầu 68 lên được (LỜI ĐỨC LÝ DẠY: Đạo Sử Bà NĐS HƯONG HIẾU).

Phạm vi của nó là để cho toàn đạo chớ không riêng gì nước Việt Nam.

Vậy khi Hội Thánh ĐĐTKPĐ căn cứ vào qui định có trong Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Đạo Luật, Kinh Lễ để áp dụng cho toàn đạo (kể cả ra thế giới) thì chính phủ cũng không có quyền ngăn trở (vì đã công nhận các giá trị trong đó).

Pháp Chánh Truyền thì cấm sửa đổi.

Tân luật cho quyền chỉnh đốn.

Chữ Đạo Luật đây là nói chung cho pháp luật đạo chớ không phải chỉ riêng cho Đạo Luật Mậu Dần (1938).
Các nội luật, luật 03 HLQVL….đều nằm trong Đạo Luật.

Những qui định đó là chuyện nội bộ của Đạo, là quy chế của đạo, chính phủ không có quyền xen vào như thế là lợi hay hại cho đạo?

ĐĐTKPĐ được chủ động để thực thi Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Đạo Luật…một cách tự chủ, tự do thì đó chính là ao ước, là khát vọng của toàn thể người đạo.

3.1- Đạo Luật Mậu Dần (1938) Điều 02 khoản 08 qui định:

Trong một năm là 24 kỳ Đàn, mà những con cái biếng nhác của Đức Chí-Tôn không đến thăm viếng Người ít nữa là 20 kỳ Đàn, thì Hội Thánh sẽ không ngó ngàng đến nữa, dầu cho trong đường Đời hay là trong đường Đạo của họ cũng vậy. Nếu như có bận việc chi phải buộc mình vắng mặt, thì phải có tờ giấy Chức Sắc Thiên Phong vi chứng mới đặng.

Từ qui định trên của Đạo Luật Hội Thánh đề nghị với chánh phủ cho quân nhân, công chức có Đạo Cao Đài được nghĩ ngày sóc vọng để đi cúng. Chính phủ đã có văn bản chấp thuận đề nghị chánh đáng nầy và ra lịnh cho các cấp thi hành.

+ Hội Thánh ĐĐTKPĐ tu sửa, xây mới hằng loạt cơ sở ở Trung ương, Thánh Thất, Điện Thờ mà chẳng phải xin thêm giấy phép con nào.

3.2- Về giáo dục.

Đức Chí Tôn có dạy ngày 27 tháng 6 năm Bính-Dần (04-8-1926).

….Thầy muốn các con hội-hiệp đặng nghe dạy:
Th... nghe dạy:
Thầy đến chuyển Đạo, lập lại vô-vi, các con coi thử bên nào chánh-lý: hữu-hình thì bị diệt đặng, chớ vô-vi, chẳng thế nào diệt đặng.
…. Chẵng cần chi con lo lập Thánh-Thất của Thầy và sùng tu Phật tượng chi hết. Con hiểu bổn-nguyên "Bảo-Sanh" là bổn-nguyên "Thánh-chất Thầy".
Thầy khuyên con để dạ lo cho nhơn-sanh mà thôi; phần hồn về Thầy.
Con có biết sự chơn-thật nơi nào mà phải khổ thân lo-lắng. Con có phận-sự rất lớn, thánh-danh con cũng lớn, Thầy dặn con nhứt nhứt phải do mạng lịnh Thầy mà thôi. Con phải lập cho thành một nền tư-bổn, chung lo cùng môn-đệ Thầy, ngày-ngày hằng góp-nhóp, tùy sức mỗi đứa lo lập:
- Một sở trường học,
- Một sở dưỡng-lão, ấu,
- Và một nơi Tịnh-Thất.
Còn chùa-chiền, thì ngày sau e cho con không đủ sức cai-quản cho hết, ấy vậy đừng lo-lắng đến nữa. Nghe và tuân theo.


Hội Thánh ĐĐTKPĐ căn cứ vào đó mà đưa vào Tân Luật, vào Đạo Luật Mậu Dần (1938) điều thứ bảy: PHƯƠNG DIỆN GIÁO DỤC, CẤT HẠNH ĐƯỜNG VÀ HỌC ĐƯỜNG CÁC THÁNH THẤT.

LUẬT

Phải lập Hạnh Đường nơi Tòa Thánh và Văn Phòng Đầu Tỉnh Đạo đặng giáo hóa Chức Sắc Thiên Phong và Chức Việc, cùng lập Học Đường đặng dạy dỗ trẻ em cho rõ thông chữ nghĩa và kinh kệ. Các Thánh Thất đều phải có Học Đường. Mỗi năm mở khoa mục khảo dượt một lần đặng ban cấp bằng hay là giấy chứng nhận cho những vị thi đỗ.

Ngay từ 1928 thì Đạo đã có trường Đạo Đức Học Đường. Ngày 18-8-1929 làm lễ mãn khóa. Đầu Sư Thượng Trung Nhựt đến dự LỄ PHÁT THƯỞNG cho học sinh. Đoạn cuối bài phát biểu:

.Ít người xét cổ suy kim, mới biết rằng Tôn Giáo nào cũng nhờ học thức mà thìn mối Ðạo, truyền Chánh Giáo mới đặng tròn câu phổ độ.
Ðạo nghèo đồng tiền eo hẹp, còn thầy giáo huấn không một đồng lương, lại thêm ngày ngày dạy dỗ ấu nhi, phải làm công quả vui cùng sanh chúng, học sinh Ðồng nhi Nam Nữ tập viết bằng lá buông, chỗ ngủ lấy ván sạp làm giường, bề ăn uống tương rau hẫm hút.
Ba năm dư mới rảnh chút thì giờ, mấy anh đây mới lập trường mà phát thưởng, lễ đơn sơ để dạ yêu thương, giục mấy cháu hết lòng lo đạo đức./.


Ngày nay ta đọc rồi để tâm về dĩ vãng, hình dung được cảnh nghèo khó của xã hội buổi đó, tấm nhiệt tình của quí Thầy Cô giảng dạy; lòng ham học của học sinh. Thấu hiểu được sự quan tâm và kỳ vọng của Hội Thánh đã ký gởi việc nâng cao dân trí, gieo mối thương yêu vào sự nghiệp giáo dục rất là chí thiết.

Sau đó Quân đội Cao Đài mở thêm Trường Lê Văn Trung và trường Đạo Đức Học Đường ở nhiều địa phương khác.

Đến thời Ngô Đình Diệm thì họ tịch thâu Trường Lê Văn Trung….

Sau đó nhiều năm mới trả lại cho Hội Thánh…

Khi có HC 1965 thì Hội Thánh đã mở thêm trường Đạo Đức Học Đường ở một số địa phuong.

+ Hội Thánh yêu cầu Ban Giám Đốc 02 trường Trung Tiểu Học Đạo Đức Học Đường và Lê Văn Trung có kế hoạch chuyển từ trường tư (có thâu học phí) chuyển sang trường nghĩa thục (không thâu học phí). (Vi bằng Hội Nhơn Sanh năm Giáp Dần- 1974- trang 263)

Lý do: chiến tranh kéo dài nhiều nhà nghèo khó không có tiền đóng tiền trường, mà Hội Thánh muốn con cái Đức Chí Tôn trong độ tuổi đi học phải được đi học, không ai phải chịu cảnh thất học vì thiếu tiền đóng học phí nên chủ động nghĩa thục hóa.

+ Từ năm 1937 Đức Hộ Pháp đã tỏ ý giao việc giáo dục tiểu học và trung học về cho các địa phương để Hội Thánh rãnh tay lo giáo dục bậc đại học (vi bằng 03 HLQVL 1937).

Vậy mà hơn 30 năm sau đạo mới mở được Viện Đại Học.

Niên khóa 1971- 1972 Viện Đại Học Cao Đài chiêu sinh khóa đầu tiên với học trình 02 năm. Liền ngay sau đó Hội Thánh xin nâng cấp đào tạo lên 04 năm. Viện tổ chức thi hết năm và cấp bằng tốt nghiệp cấp cử nhân cho khóa đầu tiên tốt nghiệp 29-4-1975 (trước ngày 30-4-1975 có một hôm).
Nhờ vậy mà toàn bộ sinh viên Cao Đài không phải học lại 01 năm như các trường đại học miền Nam lúc đó.

+ Tiến trình thành lập Đại Đạo Thanh Niên Hội,
Làm tại Tòa-Thánh Tây-Ninh, ngày 8 tháng 4 Giáp-Thìn
(Dương-Lịch, ngày 19 tháng 5 năm 1964)
Khán
Chức-Sắc Hiệp-Thiên-Đài
Bảo-Sanh-Quân
Bác-Sĩ Lê-Văn-Hoạch T.M. Ban Chấp-Hành
Hội-Trưởng
Lễ-Sanh Ngọc-Hòa-Thanh
Kỹ-Sư Nguyễn-Ngọc-Hòa​

Nghị-Định số 67 - BTNTT/TN9/NĐ; ngày 16- 3- 1965 cho phép: "ĐẠI-ĐẠO THANH-NIÊN HỘI" thành-lập và hoạt-động trong toàn Quốc.
&&&

Ngày lập xong: 19-5-1964.
Ngày được phép hoạt động: 16-3-1965.
Như vậy gần 10 tháng mới được phép.

Nếu không có HC 1965 thì khi ĐĐTNH muốn sửa đổi điều chi về điều lệ, nội qui… thì phải đệ trình, phải chờ duyệt… nhưng áp dụng HC 1965 thì Hội Thánh có đủ quyền sửa đổi, bổ túc nội qui mà không phải xin phép như đã thấy trong điều lệ ĐĐTNH hiện có.

Chúng tôi hy vọng mấy điều sơ lược kể trên đã chứng minh được Hội Thánh ĐĐTKPĐ vân dụng HC 1965 linh hoạt như thế nào.
&&&​

Kể từ ngày ĐĐTKPĐ tổ chức LỄ KHAI ĐẠO tại chùa Gò Kén (1926) thì luật pháp của đời nó giống như vô vàn sợi dây oan nghiệt bám riết vào ĐĐTKPĐ mà níu kéo làm cho đạo chậm bước trên đường phổ độ.

Xem lại đạo sử để biết thực dân Pháp đã âm mưu diệt đạo thế nào? Năm 1941 họ bắt giáo chủ của ĐĐTKPĐ và một số chức sắc khác đày đi Madagascar (Phi Châu) với ý định rõ ràng là đày cho đến chết bên đó.

Điều 25 của HC 1965 ví như nhát kéo cắt phăng mọi dây oan nghiệt của pháp luật đời đã từng tạo oan nghiệt cho đạo.

Nhưng trong tự do ngôn luận thì cũng có người ví điều 25 như cây kéo cắt đứt sợi dây làm cho cánh diều rơi xuống thì chúng tôi cũng tôn trọng ý của họ.

Phần chúng tôi làm theo lời Đức Hộ Pháp dạy: không cần cầu chứng nơi ai , nó chỉ cầu chứng với trí thức tinh thần của nó… là đủ.

Chúng tôi trả lời mọi vấn nạn nhưng chỉ cầu chứng với chính lương tâm mình là đã chắc chắn hay chưa, có phù hợp với chánh giáo hay không là đủ.

Trên đây chỉ là một vài dẫn chứng điển hình và nhận định ngắn gọn nhưng thiết tưởng đã tạm đủ để hiểu giá trị điều 25 của HC 1965 trên 02 phương diện:

+ Với ĐĐTKPĐ nó là điều mở rộng cho chánh trị đạo và hành chánh đạo thực thi chánh giáo. Nó cho quyền ĐĐTKPĐ vươn xa ra thế giới, đi vào tận chơn trời góc biển để gieo hạt giống lành.

+ Với chính quyền đã ký ban pháp ban pháp nhân thì nó là hàng rào là ranh giới mà chính quyền không thể xen vào để cản trở.

Thiễn nghĩ nếu không vào cảnh giới:

Cung chưởng pháp xây quyền tạo hóa
hay Cung tận thức thần thông biến hóa

thì làm sao viết nổi điều kỳ diệu như thế.

Đó là điều mà chúng tôi rất kính phục và tâm đắc về điều 25 của HC 1965.

***: PHẦN TRÌNH BÀY VỀ THỂ PHÁP TÔN GIÁO.

Trong thể pháp tôn giáo, phẩm Thời Quân và Đầu Sư khi mãn phần hành lễ theo nghi tiết dành cho chức sắc Đại Thiên Phong hàng Tiên vị.

Thi thể được liệm vào Liên Đài (hình bát giác), kỵ Long Mã (bông). Liên Đài được quàn tại Biệt Điện của mỗi vị một đêm. Báo Ân Từ một đêm. Đền Thánh một đêm. Di Liên Đài ra Cửu Trùng Thiên.

Khi hành lễ xong, di Liên Đài nhập Bửu Tháp.

Tại Đền Thánh, Đền Thờ Đức Phật Mẫu, các Thánh Thất, Điện Thờ Phật Mẫu, các Dinh thự, các tư gia của toàn Đạo hữu, đều treo cờ rũ từ bữa vào lễ cho đến ngày Liên Đài nhập Bửu Tháp.

Hội Thánh sẽ hành lễ Tiểu Tường, Đại Tường, kỷ niệm hằng năm, và xây Bửu Tháp. Không có làm Tuần cửu và hành pháp độ thăng. Mỗi phẩm có bài thài riêng.

Vì sao Không có làm Tuần cửu và hành pháp độ thăng.?

Đức Hộ Pháp đã giảng dạy rằng: Cửu Trùng Thiên là hình ảnh Cửu Trùng Đài tại thế.

Quan sát Cửu Trùng Thiên ta thấy kiến trúc hình bát quái. Từ mặt đất lên có 04 màu bố trí theo thứ tự:
+ Màu đỏ thể hiện cho phái Ngọc: Hòa, Lại, Lễ.
+ Màu xanh thể hiện cho Phái Thượng: Học, Y, Nông.
+ Màu vàng thể hiện cho Phái Thái: Hộ, Lương, Công.
+ Màu trắng thể hiện cho Hiệp Thiên Đài: Luật pháp.

09+01=10. Đấy phải chăng ứng với câu kinh:

Thập thiên can bao hàm vạn tượng.
Tùng địa chi hóa trưởng càn khôn.​
(câu 29-30- Phật Mẫu Chơn Kinh)​

Liên đài an vị trên Cửu Trùng Thiên có ý nghĩa gì?

Thiễn nghĩ liên đài được an vị trên Cửu Trùng Thiên là thể pháp cho biết các vị đã trãi qua 09 công thức của Cửu Trùng Đài (Cửu Viện) và bộ luật của Hiệp Thiên Đài trấn giử nên các phẩm trên: Không có làm Tuần cửu và hành pháp độ thăng.

Hiến chương 1965 do Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước và Ngài Đầu Sư Thượng Sáng Thanh ký.

Chúng tôi vẫn thường tự nghĩ: Nếu các vị không thân chứng bí pháp của đạo ngay khi còn tại thế thì làm sao viết nên hiến chương 1965 ngắn gọn, đầy đủ và mở điều 25 hay như vậy.

@@@​

(CÒN TIẾP PHẦN 2: ĐÁP LỜI 02 ĐOẠN VĂN CỦA HIỀN TN)​
 
PHẦN HAI:
“Trả lời 02 đoạn văn của hiền TN”

CÂU 01:​

Hiền TN viết:
Quay lại Hiến chương 1965, chúng ta xem:

ĐIỀU THỨ 25.- Để áp dụng Hiến Chương nầy, bản Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Đạo Luật và Kinh Lễ được coi là quy chế có tánh cách Nội Qui.

@@@​

Xem ra, Pháp chánh truyền và Tân luật của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà Hội thánh này "đưa vào" chỉ dừng lại ở mức độ "Nội quy" mà thôi.

Nếu chỉ dừng ở mức Nội quy như điều 25 đề cập thì Pháp chánh truyền và Tân luật chỉ ở mức thứ yếu (không muốn nói là dưới cả Hiến chương này); không đủ sức làm căn cứ để định đoạt một tổ chức và hoạt động của một Giáo hội Cao Đài chứ đừng nói là thống trị về mặt "đạo đức' cho cả địa cầu này.

TRẢ LỜI.​

Chúng tôi xin phép trình bày một vài chi tiết:

1- Bài học cách dùng từ ngữ từ PCT chú giải.

Trong PCT chú giải phần quyền hành Thông Sự Nam Phái có đoạn:

Bất kỳ Chức Sắc nào, dầu lớn nhỏ cũng vậy, khi Thông Sự có gặp (1) việc cần dùng gắp rút trong khi hành chánh của Đạo thì buộc phải giúp đỡ binh vực.

Bên dưới có chú thích:

Đoạn này Đức Lý Giáo Tông hỏi rằng: Nếu nói có việc chi dầu cho không nó cũng kiếm cớ đặng đụng ai sai nấy thì Hộ Pháp mới tính sao? (Cười). Ngài thêm chữ gặp vào nữa, nghĩa là thay vì: có việc; Ngài để: có gặp việc.

Người học đạo có chú ý một chút ắt nhận thấy cách dùng chữ của thiêng liêng rất cẩn thận. Bản thân Tôi khi thảo luận về khoản chú thích nầy với bằng hữu học đạo CŨNG CƯỜI KHÍNH VỚI ĐỨC NGÀI..... giờ khi viết mấy dòng nầy cũng còn tự CƯỜI KHÍNH MỘT MÌNH....

Qua đây chúng tôi nhận thấy văn từ dùng trong PCT chú giải thường thì nó gần gủi với đời thường, mang tính bình dân. Nhờ vậy mà con cái ít học, thậm chí dốt nát của Thầy cũng hiểu được PCT nói gì trong đó, nên họ mới tuân y PCT và tự nguyện bảo vệ PCT. Nó không mang nặng tính hàn lâm (cần có vốn về học vấn cao mới hiểu được).

Nói xa mà cụ thể một chút:

Tân Luật có 64 điều thì Tôi thấy các luật lệ sau đó (như Luật 03 HLQVL hay Đạo Luật Mậu Dần-1938- …) của Hội Thánh ĐĐTKPĐ ban hành chưa có bộ luật nào nhiều hơn 64 điều.

Bởi lẽ Tân Luật quan trọng như thế mà chỉ có 64 điều (ứng với 64 quẻ dịch) thế thì các luật sau đó có bộ nào quan trọng hơn Tân Luật chăng? Rồi đến như mẫu các Thánh Thất không có mẫu nào lớn hơn Tòa Thánh. Hành bất ngôn chi giáo là vậy.

Đạo Thầy có 02 điều luật tối thượng: Bác Ái- Công Bằng.

Thiễn nghĩ các vị thay mặt cho Hội Thánh ĐĐTKPĐ soạn HC 1965 chắc chắn là tâm đắc Pháp và Luật đạo nên rất cẩn trọng khi soạn. Nhưng cái gì do người còn mang xác phàm cũng có thể sơ sót hay lầm lạc nhưng thiện chí của các vị là điều hậu tấn cần thấu hiểu và trân trọng để đối xữ cho công bằng.

Không ai thấy được sự minh triết nhưng căn cứ vào cách thức thể hiện trong xữ kỷ, tiếp vật mà ta nhận biết có sự minh triết hay không?

&&&​

(CÒN TIẾP CÂU 2: Hiền TN cắt xén nguyên văn điều 25 HC 1965.)​
 
Sửa lần cuối:

Hao Quang

New member
Huynh Trần Văn Chí viết " Năm 1941 họ bắt giáo chủ của ĐĐTKPĐ và một số chức sắc khác đày đi Madagascar (Phi Châu) với ý định rõ ràng là đày cho đến chết bên đó."
Xin phép cho HQ hỏi: Giáo Chủ của ĐĐTKPĐ là ai?
 
TRẢ LỜI CÂU HỎI.​

Hiền Hao Quang viết:

Huynh Trần Văn Chí viết " Năm 1941 họ bắt giáo chủ của ĐĐTKPĐ và một số chức sắc khác đày đi Madagascar (Phi Châu) với ý định rõ ràng là đày cho đến chết bên đó."
Xin phép cho HQ hỏi: Giáo Chủ của ĐĐTKPĐ là ai?


TRẢ LỜI.​

Xin chào hiền Hao Quang.
Xin cảm ơn bạn đã gởi câu hỏi.

Trước mắt xin trả lời vắn tắc (theo nguyên tắc hành chánh):
Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã ký nhiều văn bản đề là Phạm Công Tắc giáo chủ Đạo Cao Đài.
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ còn gọi tắt là Đạo Cao Đài.
Lý do sao mà Ngài có danh hiệu giáo chủ?
Ngài là Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.
Khi Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt triều thiên thì Hội Thánh ĐĐTKPĐ công cử Ngài cầm luôn quyền Chưởng Quản Cửu Trùng Đài.
Khi nắm quyền Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng là Ngài nắm quyền Chí Tôn tại thế.
Nắm quyền Chí Tôn tại thế là có tư cách Giáo Chủ ĐĐTKPĐ về hữu hình.
@@@​

***: Phần trình bày liên quan đến câu hỏi của Hao Quang và những câu hỏi tương tự….
Tôi đang soạn phần TRẢ LỜI THÊM ở ĐỀ TÀI Đạo Luật Mậu Dần và 04 Cơ Quan Hành Chánh Đạo.
Trong vài hôm nữa Tôi sẽ trình chánh hai điều:
+ Từ lịch sử diễn tiến.
+ Từ trong thiên thơ (TNHT).
Bạn vui lòng theo dõi thêm bên đề tài đó.
Kính.
@@@
 

Facebook Comment

Top