Chúa Jesus và Cao Đài giáo

Trung ngôn

Active member
21. ĐỨC KI TÔ GIẢNG Ý NGHĨA
QUẺ ĐỒNG NHÂN TRONG KINH DỊCH
------------
Huờn Cung Đàn, 15-11 Bính Ngọ (25-12-1966)
Thi
Thích, Nho, GIA, Lão vẫn đồng nguyên,
Chung sức TÔ nên đạo thống truyền;
Hoằng hóa GIÁO dân tin chánh pháp,
Tự cường CHỦ động gội ơn Thiên.
Ta chào chư Thiên ân, chư đạo tâm nam nữ. Ngày này khắp trên mặt địa cầu đều để lòng ghi nhớ ơn Ta. Ta sẽ ban nhiều phước lành cho nhơn loại. Nơi đây cũng như khắp trong nền chánh pháp Cao Đài đều dâng lễ mừng Ta. Ta sẽ làm cho nước này, dân này, được nhiều an ủi và lành mạnh thêm mãi. Chư Thiên ân an tọa.
Này chư hướng đạo ôi! Khắp trên hoàn cầu, nơi nào cũng bị họa đời dày xéo, người người đương rên rỉ, lầm than, phập phồng lo sợ từng giờ, từng phút, chưa biết ma tử thần đến lúc nào.
Ôi! Cảnh đời quá điêu linh, điên đảo, nước nước tranh giành, mà đưa đến cho con người một cuộc máu xương khói lửa ngút trời. Khổ vì xác thịt, vì ăn, vì mặc, vì lợi, vì danh, vì chỗ đứng nơi ngồi, vì màu da sắc tóc, loài người xô đẩy nhau. Chẳng những vậy, mà còn phe phái, xu hướng khác nhau, đã gây nên tang tóc cho đời. Thậm chí tôn giáo cũng vì tín ngưỡng không đồng mà xô xát nhau, làm cho tinh thần xáo trộn. Cái họa đời to tát, rồi đây nó sẽ xô nhơn loại vào hố gươm đao, vào nơi chiến địa. Nếu đạo Trời không ra kịp, thì cõi dinh hoàn này chắc chắn sẽ thành tro bụi.
Đạo Trời lần ba hoằng khai để cứu vãng tình trạng nguy vong của nhơn loại, mà tái lập cuộc thế giới an bình. Thượng Đế chọn đất Việt làm Thánh địa, chọn dân Việt làm tiền phong khai đạo, nói lên những lời thiết tha bằng tình thương lẽ thật và sự sống đời đời.
Cái sứ mạng trọng đại này, cái quyền pháp vinh hạnh này, chư hướng đạo đã chịu ơn Trời, đảm đương công vụ, hầu thay gánh cho Chí Tôn ở dưới cõi này. Làm sao đây?
Đạo lớn lao thì trách nhiệm cũng quá chừng to tát, đâu phải một người làm xong, mà cần hiệp sức nhau, chia sớt nhau, để cùng lo cùng tính. Kẻ trong người ngoài, nơi nào cũng có mặt con nguời hướng đạo, hầu nói lên cái tôn chỉ dung hòa bình đẳng, hầu mọi người, mọi nơi được nhận định nguồn gốc là Đạo có một không hai, để lấp bằng các hố chia rẽ bất bình, xô đổ những thành trì ngăn ngại phân ranh màu sắc, tín ngưỡng.
Chư hướng đạo nên dừng nghỉ một vài phút để kiểm điểm việc làm của quyền pháp, vì sao mà chưa cảm hóa được người? Vì sao mà mỗi ngày còn chia xẻ ra từng manh mún, làm cho Thánh thể của Thầy mỗi nơi mỗi đoạn. Nền đạo hầu như ngưng trệ, các bộ máy đã tê liệt lắm rồi! Trông lại đàng sau bao nhiêu người đương yêu cầu, mong mỏi Thần cứu chuộc cho họ thoát khỏi đau thương.
Nền đạo hiện tình, mỗi nơi mỗi nhóm, mạnh ai nấy lo, mạnh ai nấy làm, không tương quan mật thiết. Đã đành chia ra để hoạt động, chia trong nguyên tắc quyền pháp, thì có hại gì đâu! Cũng như một cây thước chia thành mười tấc, mỗi tấc chia ra mười phân, mỗi phân còn chia nhỏ từ ly. Sự chia của cây thước là để làm công dụng cho thiên hạ rập ràng, thì sự chia đó có hại gì đâu, mà còn lợi gấp ngàn gấp trăm.
Song sự chia của nền đạo trong hiện tình, chẳng được y theo khuôn thước, nên chỗ vầy chỗ khác, như đã thiên sai vạn biệt lắm rồi! Chưa nói cứu đời, mà tự mình đã lâm vào cảnh chia ly thống khổ.
Xét ra thì tự mình đã mâu thuẫn lấy mình. Mình tự mâu thuẫn mình, thì còn ai tin mình? Nên chi người hướng đạo phải có trách nhiệm làm sao để vãn hồi, tìm các giải pháp hữu hiệu, để sớm phục hưng, đem nhau về một. Công đức đó mới xứng đáng của cái tên “Hướng đạo”.
Làm được vậy thì đẹp lòng Thầy, mà mãn nguyện cho nhơn sanh, thì phước lành mới chảy đến muôn loài vạn vật. Song quyền pháp đâu phải Trời không đủ kềm chế, huyền diệu Thầy đâu không đủ sửa đương, mà để cho chư hướng đạo và nhơn sanh lập lấy công, tu lấy hạnh hầu trở nên Tiên, Phật, Thánh, Thần.
Sự chia ra cũng có lợi: nhờ vậy mà mối đạo được lan tràn rộng lớn, mà cũng được yên ổn cho nội bộ, ở chỗ chánh quyền không lo và không cần lưu ý. Chính quyền nào cũng muốn phân ra để trị, mà ý Thầy cũng tự nhiên tùy theo hoàn cảnh và trình độ của chư hướng đạo, mà sự chia ra để giúp cho mối lo lớn cho những tay ưu tư vì đạo, nên người hướng đạo mới thiết tha hoài bão, đeo đuổi mục tiêu duy nhứt cho đến cùng.
Nên từ lâu đã nhiều phen lập hội này, hội nọ, để kêu gọi những người vì đạo vì Thầy, cộng tác nhau mà xây dựng. Song lập rồi lại phế, phế rồi lập lên, hết keo này, đến keo khác, nhưng chưa đi đến đâu.
Mặc dù chưa kết quả, song đó là trường thi chọn lựa lòng công tâm hạnh của chư hiền, mà chư hiền cũng có dịp bày tỏ lòng mình với nhơn sanh, cho Thượng Đế chứng minh. Ngặt vì đường lối chưa khế đồng, chưa trúng đích.
Muốn hiệp nhứt, mà hiệp bằng một cách đơn độc, bắt buộc ai cũng làm, cũng nói cũng đi một đường, một kiểu như nhau, thì vạn đời chưa chắc kết quả. Muôn loài vạn vật đều khác nhau.
Cá thì ở nước sông. Chim thì ở non ở núi. Bắt cá thả lên rừng, bảo chim vào ở biển, thì làm sao không loạn?
Phương chi nhơn tình mỗi người mỗi ý, hóc hiểm khó khăn, mà muốn biết lòng người đâu phải không cực tâm nghiên cứu, mà suốt tận đáy lòng của thiên hạ. Song lấy mình để xét người ai đói cũng muốn ăn, lạnh cũng muốn mặc, nhọc cũng muốn nghỉ, thì mình với người khác chi. Đem mình mà áp dụng vào người, thì ai không theo, ai không đồng.
Ngặt phải về một chỗ, phải làm một việc, phải nói một lời thì kẻ nông phu không sao viết ra bài, người học trò làm sao canh tác nổi? Nên việc làm tuy khác nhau, mà tâm hồn vẫn được như nhau, là đều chung trong lợi người, lợi việc.
Hôm nay, Ta đến để góp một vài ý kiến về việc tương hệ với bạn đồng đức đồng tâm, hầu kết nên tràng thương yêu, mà chung cùng nhiệm vụ.
Đây là một đoạn trong Hệ Từ Dịch truyện, Đức Khổng Phu Tử nhấn mạnh về việc đồng tâm, đại đồng của thiên hạ. Ta nên lấy đó để hành đạo, giữ đạo mà xây dựng quyền pháp tương lai, cứu vãng lại nội tình hiện tại.
Hệ Từ viết: “Đồng nhơn tiên hào đào nhi hậu tiếu. Tử viết: Quân tử chi đạo, hoặc xuất, hoặc xử, hoặc mặc, hoặc ngữ, nhị nhơn đồng tâm, kỳ lợi đoạn kim. Đồng tâm chi ngôn, kỳ xú như lan.”
“Đồng nhơn tiên hào đào nhi hậu tiếu”. Câu này ở hào ngũ, quẻ Đồng Nhơn. Nói đến đồng nhơn thật rất khó khăn. Song thời thế đã đến, thì dầu ai không muốn đồng cũng không được. “Đồng tâm” là người này người kia, tuy không ở chung với nhau, mà tâm sự vẫn đồng như nhau.
“Tiên” là trước. “Hào đào” là kêu rêu than thở. “Hậu” là sau. “Tiếu” là cười. Nghĩa là nói đến sự đồng tâm, trước vì sao mà phải kêu rêu than thở. Kêu rêu than thở là vì hai người đồng với nhau, mà chưa ngộ hợp cùng nhau, là vì trung gian có hào Cửu Tam, Cửu Tứ ngăn trở, nghĩa là bị người ta phá, bị người ta gièm pha giành giựt.
Nhưng lẽ phải cuối cùng cũng được ngộ hợp nhau mà vui cười, sung sướng. Nói đến đồng tâm giữa người này với người kia, mà còn khó như vậy, huống chi khối này khối nọ, làm sao dễ được?
“Quân tử chi đạo” là đạo người quân tử ở chỗ đồng tâm, để mưu toan việc đạo, việc đời, mà lo cho nhơn loại.
“Hoặc xuất, hoặc xử, hoặc mặc, hoặc ngữ” nghĩa là: kẻ ra gánh vác việc đời, làm công việc nọ việc kia; kẻ thì ở yên một chỗ, ẩn dật tu hành, kẻ lại im lặng mà làm thinh, còn kẻ thì khua chuông giục trống cảnh tỉnh người đời. Tuy xuất (ra làm quan) với xử (hoặc ẩn dật) khác xa, ngữ (nói), mặc (nín) trái hẳn, song cũng đều lo cùng một mục đích như nhau. Tuy hoàn cảnh địa vị khác nhau, nên mới có kẻ ẩn người hiện, kẻ nói người làm thinh, vì thời và vị không giống nhau. Song đem đổi hoàn cảnh của người này cho người kia, thì họ cũng làm như nhau không khác.
Đây nói cái đồng tâm, mà cái tích (việc thấy hiện bên ngoài) bất đồng. Tâm là tinh thần. Tích là hình thức. Tích mà đồng, tâm không đồng, thì người quân tử không hề làm; mà mặc dầu tích không đồng, tâm đồng, là đạo lợi cho thiên hạ. Nên mỗi người đã đồng tâm rồi, thì chia nhau mà lo, kẻ làm việc nọ, người làm việc kia, ai cũng cúc cung tận tụy. Các tận sở năng của mình, dầu ở xa ngàn dặm, những việc làm giống nhau, như khuôn in rập.
“Nhị nhơn đồng tâm kỳ lợi đoạn kim”, nghĩa là: người này cùng người kia mà đồng tâm nhau rồi, thì núi cũng xô ngã được, biển cũng lấp bằng được. Người người đều cảm mà hóa theo, thì khác nào một đoạn sắt chặt một cái là đứt làm đôi. Sức mạnh của đồng tâm ghê gớm làm gì lại không được? Dầu cho Trời đất cũng vui nghe mà giúp đỡ. “Đồng Tâm chi ngôn, kỳ xú như lan”, nghĩa là: lời nói của người đồng tâm, tuy không ngọt ngào, mà ai cũng thích, tuy không nồng nàn mà ai cũng say, cảm đến người đến vật. Lời nói thống thiết chân thành, mùi vị ngọt ngào, dầu sự thơm của hoa lan cũng chỉ đến chừng đó là cùng.
Sự đồng tâm tác hợp nhau, để lo xây dựng đạo Trời. Đạo Trời cũng mưu tính, cải tạo loài người, tái lập cuộc đời đại đồng thế giới. Mục đích ai là người có trách nhiệm trong nền tân pháp Đại Đạo phải hướng vào đó mà tu sửa, mà mở mang.
Song thế giới bước đến đại đồng, trước phải đặt móng đắp nền ở gần, rồi mới đến xa, nghĩa là: phải xây dựng đại đồng trong đạo. Người nọ lấy thương yêu làm mục đích, lấy lẽ thật làm nền tảng, cột chặt lấy giải đồng tâm.
Hãy xét quẻ Đồng Nhơn trong sáu hào.
Hào sơ thì “Đồng nhơn vu môn”, nghĩa là: đại đồng với người không phải ở trong nhà mà nói đại đồng, cần phải ra khỏi cửa, để đồng cùng xóm giềng, làng nước, giao du chỗ nọ, chỗ kia, mà kết tình bằng hữu, để cùng nhau chung lấy nhiệm vụ đại đồng.
Đến hào Lục Nhị, thì “đồng nhơn vu tông”, nghĩa là: hào này đồng nhơn là đại đồng với trong tông tộc, phe phái hệ thống của mình mà thôi. Đồng nhơn như thế cũng quá hẹp chật, chưa đúng với đại đồng, nên người hướng đạo coi hào này, mà cần mở rộng phạm vi liên kết với bạn bè ở nhiều tôn giáo, học thuyết rải rác khắp mọi nơi.
Đến hào Cửu Tam, thì cũng muốn đồng với người, song đồng ấy là giành kéo về mình, làm của riêng cho mình, nên núp ở chốn bụi gò mà rình để giựt Lục Nhị (hào âm).
Đến hào Cửu Tứ cũng vậy song muốn được Lục Nhị, phải cởi lên Cửu Tam, nghĩa là: trèo lên thành mà coi động tịnh. Hai hào này ở trong quẻ Đồng Nhơn, mà đồng bằng cách giành giựt, tham lam, thì người hướng đạo của Ta không nên bắt chước.
Đến hào Cửu Ngũ, thì trước phải kêu rêu than thở, sau dùng đến đại binh, mới trừ được trung gian phá hoại, mà hai bên mới hội ngộ hợp nhau, vui cười sung sướng. Ôi! Đồng tâm mà khó như vậy, phải dùng toàn lực đại vũ, mới đi lên thành công. Điều đó, nhà đạo chắc không làm, vì chi mạnh cho bằng đạo đức? Nên nói:
Lấy đạo đức làm nền xu huớng,
Lấy cảm tình làm tướng giục binh.
Song cũng nhớ rằng: việc làm dầu nhỏ, dầu lớn, cũng bị điều trở ngại. Ta phải đề phòng, mà cũng phải gắng công bền chí.
Đến hào Thượng Cửu, thì “Đồng Nhơn vu giao”. Vu là đi. Giao nghĩa là giao du, giao du ở gần nhà mình, nước mình, thì cũng hẹp chật. Chỉ có lời Soán Từ là “Đồng Nhơn vu dã”. Đồng Nhơn mà vu dã (ra đồng trống) thiệt rộng lớn mênh mông, không bờ bến. Đâu phải ra khỏi cửa hay ở trong tông phái mình mà thôi, còn kết thân tình huynh đệ đại đồng khắp chỗ, đồng hoang hẻo lánh, đâu còn lựa chọn so cân.
Vậy hôm nay, Ta cần đặt lại vấn đề, để rồi ngày tới đây đặt mối tương quan, để thành một mối đồng tâm, mà chia lo việc đạo, gánh vác việc đời, hầu đem lại một khối bình đẳng duy nhứt, không còn ranh giới rẽ riêng.
Hôm nay, tượng quẻ “Thái” giữa đàn gồm đủ bên Dương bên Âm, Âm Dương tương hội, đạo pháp khai thông, thì trách nhiệm ngày tới đây: các hiền như Huỳnh Đức, Thiên Huyền Minh, Kiến Minh, cùng nhau đặt lại một chương trình cũng cố lại nền tảng lại cho vững chắc, mà kiến trúc một lâu đài mới mẻ, để làm cơ chỉ cho muôn đời.
Hôm nay, cũng có mặt quí vị Minh Lý, mà cùng nhau đặt lấy vấn đề chung, theo lời của Ta thì tốt đẹp biết chừng nào! Thiên Hoa, Nghi Dung, hiền và hiền muội gắng sức chung tâm cộng sự với quyền pháp, tu sửa tâm thân, để hầu ngày mai đương hành trách nhiệm.
Nơi đây, gắng công một lần nữa để hoàn thành sứ mạng, mặc dầu đã trải qua nhiều trở ngại, song cuối cùng cũng được kết quả. Lòng đạo đức cứ tiến không lùi, dầu chưa làm xong, sau có người kế tiếp như Ngu Công bạt núi, Chim Tinh Vệ lấp biển. Được hay không là ở Trời, còn bổn phận làm nên cố gắng.
 

Trung ngôn

Active member
22. TAM KỲ PHỔ ĐỘ KHAI NỀN TÂN GIÁO LÝ PHỐI HỢP CẢ ĐÔNG, TÂY ĐỂ XÂY DỰNG
MỐI ĐẠI ĐỒNG NHÂN LOẠI
------------
Huờn Cung Đàn, 23-11 Đinh Mùi (25-12-1967)
Thi
PHAO phách lòng mình đã tỏ ra,
LÔ không đồng MÁC tách NA BA;
THÁNH môn xuất hiện thời Trung cổ,
ĐỒ nhập đàn trung báo lệnh Cha.
Ta mừng chư Thiên sứ, sứ đồ của Chí Tôn thọ mạng hạ trần lập đạo. Giờ linh, Ta hạ trần báo lịnh có Cha Ta hạ thế chứng lễ để đáp lòng tri ân thành kỉnh. Vậy Thiên sứ nên thành tâm tiếp Cha Ta hạ trần, muốn tỏ phần trọng kính nên có ba hồi chung để tiếp lệnh. Ta phản hồi Bắc Hải.
Tiếp điển...
GIA TÔ GIÁO CHỦ, Ta mừng chư môn đồ Thiên sứ.
Thi
GIA pháp ngàn xưa tiếng vẫn còn,
TÔ bồi Tân Ước bảng đề son;
GIÁO dân Âu Á qui nguồn gốc,
CHỦ dựng Đài Cao sử chép còn.
Ta mừng thế gian được hưởng nhiều phước huệ của Từ Tôn ban bố.
Lành thay! Ngày lưu kỷ gần 2000 năm, tiếng tôn kính ca ngợi vẫn bay đầy trên thế giới. Ngày này đã một niềm tin đầy hy vọng của các ngươi đã dâng cho Ta một bầu tinh thần nhiệt huyết. Ta ban ân huệ an tọa tam ban nghe Ta truyền nhắc.
Nầy chư sứ đồ, thế kỷ hai mươi cơ đời tận diệt, chân truyền giáo lý của các tôn giáo ngày xưa dần dần phai màu. Thế nên sự biến động nhân tâm, tinh thần giáo lý chuyển thành một món thực phẩm để cung ứng cho loài người. Bởi tinh thần biến động làm cho lay động nhơn tâm vì đó mà phải xa rời đạo lý. Một bằng chứng: cha con, chồng vợ, anh em, bậu bạn đều sa sút cả lòng tin tưởng. Bởi sự lay động làm mất cả bản tính tự nhiên, tinh thần hướng vào sự tranh đấu vật chất. Đời càng văn minh thì nhân loại càng chú trọng về phần vật chất, tranh đấu để sống còn hơn là tranh đấu về tinh thần dù cho các nhân phẩm ấy đã là một thần tượng trong cảnh giới đạo đức.
Kìa, sự sụp đổ cả đền đài tinh thần của các tôn giáo ngàn xưa do các giáo chủ đã dày công phu sáng lập cũng như nghiên cứu những tinh ba giáo lý đầy thực chất tinh vi để phổ biến lại cho đời trong các giống dân thích hợp. Sự nghiệp ấy đã lưu lại cho đời kế nghiệp.
Thiếu tinh thần làm cho giáo lý ngày càng thấp kém, cũng như một ngọn lửa đang bừng cao sáng tỏ rồi dần phai mờ trước khi tàn rụi. Bởi kẻ có trách nhiệm không thấy mình có bổn phận tầm những nguyên liệu thích ứng để bồi bổ vào ngọn lửa có đủ phương tiện duy trì sự sáng đặng tiếp tục chói sáng giữa ban ngày trong khi thế gian đen tối. Thế nên mức độ tiêu diệt của thế kỷ chuyển luân khắp thế gian ngày càng tăng cao nhiệt độ.
Khai nền tân giáo lý, tá danh Cao Đài đã đúng theo lời tiên tri trước kia 2000 lưu lại. Hỡi! Các con chiên còn nhớ? Khai nền tân giáo lý phối hợp cả đông, tây để xây dựng mối Đại Đồng cho nhơn loại hầu xây dựng lại tinh thần của thế gian đang khi sụp đổ.
Bài
Nền Thánh đạo ngàn năm sáu tám,
Nhìn khắp nơi nhiều đám chúng sanh;
Tông đồ hoằng hóa đạt thành,
Chơn truyền cứu thế, chính danh Chúa Trời.
Tá hình thể xuất đời Do Thái,
Dựng chơn truyền thời đại phân minh;
Giống da mất hẳn niềm tin,
Chuyển sang La Mã dựng hình Ý đây.
Ba mấy năm thân này huyết đổ,
Lòng hy sinh phổ độ con Ta;
Chuộc tội sanh chúng vị tha,
Chuyển nền Thánh đạo sang qua Mỹ Thành.
Thay danh hiệu Tin Lành ai đó?
Dựng mấy dòng Một có mình Ta;
Chuyển miền đông Á sang qua,
Tông đồ phải chịu luật mà Nam bang.
Trong thế kỷ an toàn mười chín,
Nở mộng vàng thức tỉnh giấc say,
Dòng đời giục thúc hồi lai,
Chủ quyền Nam Việt đọa đày con Ta.
Buộc tông đồ sang qua Tự Giá,
Sinh mạng còn cho cả con chiên;
Nếu bằng chẳng khứng lịnh truyền,
Luật hình thọ tử bởi quyền phép đây.
Cấm truyền bá đạo này Nam Việt,
Lửa thử vàng, vàng thiệt khó tan;
Khắc khe màng lớp Nam bang,
Tinh thần tồn tại thở than chi trần.
Chịu thử thách tinh thần thiết thạch,
Chịu dũa mài nhiều cách xác thân;
Biết bao máu để cõi trần,
Quyền năng cứu độ con dân tội tình.
Cơn mạt kiếp điêu linh thống khổ,
Tá trần gian phổ độ chúng sanh;
Cao Đài thị ngã tá danh,
Khai nền Đại Đạo chuyển thành Thượng Nguơn.
Đọc bài thi: “Phao Lô Thánh Đồ”…
Vậy các ngươi có hiểu chăng? Bạch …
Cười, vì Phao Lô không đồng ý với Mác. Tất cả Na Ba là hai vị tông đồ!
Giờ kỷ niệm Ta dùng huyền pháp chứng lòng lưu ký cùng các ngươi một đoạn để làm tài liệu nghe!
Vậy giờ chứng lễ đã qua, Ta ban ân lành chung, tiếp lịnh. Ta phản hồi thượng giới.
 

Trung ngôn

Active member
Một mùa Giáng sinh nữa lại về; khí trời se lạnh, loài người chuẩn bị đón ơn Chúa trong dịp Noél.
Cầu chúc ơn lành cho tất cả chúng ta.
Trung Ngôn tìm thấy bài Thánh ngôn này, xin đăng cho mọi người cùng xem.
________________________________________

Trung Hưng Bửu Tòa, ngày 09-9-ĐĐ.31 (Bính Thân)
(12-10-1956)
THI

CHRIST đến lần ba,
NGÔ đạo mở sơn hà;
ĐẠI đồng qui vạn giáo,
TIÊN Phật cũng là Ta.

Bần Đạo chào chư Hiền đồ.

Các ngươi có biết vì sao nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ phải dùng bằng huyền diệu cơ bút của Tiên gia mà hoằng pháp khai giáo?

Lần nầy THẦY đến cùng chúng sanh bằng luồng quang điển ngự nơi mỗi người đã có sẵn Thánh linh mà dạy dỗ và ban truyền bí pháp. Ta đến cùng các ngươi cũng bằng Thánh linh mà các ngươi chưa hề biết được. Hằng ngày các ngươi cùng Ta chung lộn, Ta hằng giúp đỡ cho các ngươi, nhưng các ngươi còn vô minh, nghiệp thức cảm nhiễm, danh sắc pháp trần quá rung động, nên che khuất Ta. Nay Ta đến bằng cơ bút, trước Ta đến bằng xác thể cũng chỉ làm cho các ngươi thấy thêm lẽ mầu nhiệm của cơ bí mật. Rồi đây các ngươi còn thấy nhiều bí mật hơn nữa, mà THẦY cho Ta được phép trình bày cùng các ngươi huyền diệu nầy, hay huyền diệu khác, nhưng Ta bảo cùng các ngươi phải nhẫn nhục mà chờ đợi Ta. Ta đến một ngày giờ nào chưa biết, các ngươi cần phải tỉnh thức mà tiếp lấy Thánh linh.

Đấng CHÍ TÔN quá thương yêu chúng sanh ngày tận thế, đã hóa thân bằng thần diệu điển quang để hòa sự sống và tình thương yêu mà cứu chuộc. Nhưng phần đông trong hàng Sứ đồ chưa làm hết phận sự đã giao phó, lại bị ma quỷ ám ảnh đủ cách rồi thiếu đức tin nơi tiếng gọi. Hằng phút hằng giờ, Thánh linh đi lại nơi người hay các đám đông có phần cầu nguyện, các ngươi đã chịu sứ vụ nơi Ngài để cùng Ta làm bao nhiêu việc từ nay đến ngày phán đoán phải cho rồi. Thế mà các ngươi thiếu đức tin, thiếu sự thành thật cùng Ta, các ngươi chưa chịu dọn mình chờ đón nước lành, các ngươi lại yêu sách mỗi ngày phải hiện bao nhiêu phép lạ. Các ngươi nào phải kẻ muốn thấy pháp lạ, các ngươi phải làm cho được những phép lạ kia mới phải là môn đồ cứu thế. Tại sao các ngươi chưa được nhiều phép lạ như các Thánh ngày trước? Vì các ngươi còn thiếu đức tin, tâm hồn các ngươi còn đen tối. Ta đến đây các ngươi nên dứt sạch những mối tư tâm, tinh tấn lên, dõng mãnh lên, cầu nguyện hằng ngày cùng Đức Cha lành trên Trời để được Ngài vui mừng mà trao những ân huệ xứng đáng cho để làm tròn sứ mạng. Sứ mạng hôm nay là sứ mạng tận cứu vạn linh, cải tạo thế gian thành Bồng lai lạc quốc. Nói cứu thế gian, làm cho thế gian thành cảnh địa an bình, thì những nạn khổ hiện thời và bao nhiêu nghiệp quả của chúng sanh đem để vào đâu? Phần ấy chúng ta phải chia nhau mà gánh vác. Ví như trước kia Ta đến cõi thế nầy Ta nguyện uống cạn chén đau thương của loài người. Nhưng than ôi! Khi bị mang lấy xác thịt nơi cõi thế nầy, dù Ta là người được lệnh phải đến, lòng Ta đầy dẫy Thánh linh, mà lúc gần nạp thân nầy cho kẻ nghịch Ta cũng buồìn cũng nghĩ suy đôi lúc đi đi lại lại lòng hằng cầu nguyện cùng Cha mong Ngài chế giảm. Nhưng vì nước lành chảy đến quá mạnh, Thánh linh đầy dẫy thúc giục Ta hằng giờ, chung quanh Ta nghe những tiếng chào mừng, ca ngợi của các Thiên Thần, mà Ta thắng, Ta quyết bưng chén đau khổ uống cạn không chia bớt cho ai. Thế thì ngày nay các ngươi đã gội nhiều Thánh đức của THẦY, đã thu nhặt bao kinh nghiệm vừa qua thì sao chưa quyết tâm mà đoạn cắt những tình ái danh lợi, bẻ gãy những nhánh nhóc phiền não vô minh, để cho tâm thân thanh tịnh mà đón lấy nước lành, tiếp nhận những phép lạ. Nước lành đã đến, phép lạ gần ban, giờ các ngươi phải giục thúc Thần đức tin cho gấp để được đón Thánh linh mà lãnh lấy sự bí mật nơi Ngài. Ta đến đem huyền diệu cho các ngươi phải bình tỉnh yên lặng mà tỉnh giấc trong giờ mà mọi người say ngủ.

Ta đến bằng Thánh linh, thì các ngươi đón Ta cũng bằng Thánh linh, nghe Ta bảo, thấy Ta làm mà noi theo, nghe và thấy không phải bằng cảm quan của lục thức mà bằng trực giác của Thánh linh. Vậy các ngươi phải đuổi hết ma quỷ trong nhà các ngươi, nó trốn tránh nơi xó kẹt hóc hiểm, hoặc trộn lẫn theo đồ đạt, các ngươi muốn nghe Ta nói cơ bí mật, thì đừng để ma quỷ chúng nó rình mò mà tiết lậu sự huyền bí.

Kỳ tịnh này các ngươi muốn đón lấy Thánh linh, phải có Thần Thánh linh nơi người. Thần Thánh linh nơi người của các ngươi không hiện ra thì làm sao có Thần Thánh linh nơi Trời ngự đến, các ngươi đừng cho lũ ma quỉ quanh quẩn sau trước nơi nhà, các cửa kia đóng lại mà tỉnh thức chờ khi nào có tiếng gọi thì dậy mà hầu Ta nghe dạy!

Các ngươi còn dục vọng, còn dục vọng thì bị thất vọng, cái chứng bịnh của các ngươi hiện nay bị biến trở quá lẹ. Các ngươi không chịu bình tỉnh mà yên đợi nước lành, lại nôn nả la ré mời thầy nầy, thầy kia cứu chữa, không tìm cái cội gốc bệnh để đốn nhổ, thì thân phận bao giờ cho yên. Hôm nay các ngươi xin Đàn để hỏi nhiêu đó, Ta trả lời nhiêu đó. Các ngươi chờ đón Ta, Đàn khác sẽ dạy thêm.

Bần Đạo chào chư Hiền đồ./.
 

dong tam

New member
Trung ngôn đăng;<br />Trung Hưng Bửu Tòa, ngày 09-9-ĐĐ.31 (Bính Thân) <br />(12-10-1956)
<br />THI
CHRIST đến lần ba,<br />NGÔ đạo mở sơn hà;<br />ĐẠI đồng qui vạn giáo,<br />TIÊN Phật cũng là Ta.<br /><br />
Nếu bài thơ được đọc khoán thủ sẽ là: CHRIST NGÔ ĐẠI TIÊN.

1. Trước hết, người đọc có thể hiểu đây là lần giáng cơ của Đức Ngô Minh Chiêu (Ngô Đại tiên) nhưng sau khi đọc nội dung thì thấy cách hành văn và ý tứ của Đức Jesus nhiều hơn.

Đọc phần thơ xưng danh này có thể hiểu là Đức Ngô chính là Đức Chúa Jesus. Có thật thế không hay không phải thế?

2. Vậy làm sao có thể xác định đây là một lần giáng cơ của Đức Jesus chứ không phải của Đức Ngô?
 
Kính thưa quý Huynh Tỷ ;

Trong Kinh Dịch có 2 hình đồ : chữ thập ( hà đồ ) , chữ vạn ( lạc thơ ). Hai tôn giáo lớn trên thế giới Phật giáo có biểu tượng chữ vạn , Thiên Chúa giáo có chữ thập . Còn Cao Đài giáo có phái vô vi tu theo Đức Ngô thờ chữ thập và các chi phái phổ độ có biểu tượng chữ vạn . Đức Ngô và Chúa Jesus có liên hệ đến chữ thập . Đức Ngô hành tịnh luyện , còn Đức Chúa thì theo nhiều người cho rằng ngài không tu luyện .Vậy theo quý Huynh Tỷ có gì chứng minh Đức Chúa Jesus cũng tu luyện như Đức Ngô không ?Nếu chúng ta tìm ra được sự giống nhau trong cách hành đạo của hai ngài thì có thể hiện thân của hai ngài là một . Kính .
 

dong tam

New member
Trong quyển Tiểu sử Đức Ngô minh Chiêu có ghi lại một câu nói của Ngài lúc sinh tiền:"Ngô thân bất độ hà thân độ."

Nếu dùng nghĩa của chữ "ngô" trong câu này để ứng dụng cho câu thánh giáo "Ngô Đạo mở sơn hà," thì chúng ta sẽ hiểu đúng được nghĩa!

Từ đó sẽ xác định được ai là người giáng cơ dạy bài này.
 

nguyennhantu

New member
Kính quý Huynh ;
Đức Ngô và Chúa Jesus có nhiều điểm giống nhau . Đức Chúa Jesus lấy rượu đỏ và bánh để chỉ bí pháp tu luyện. Ngài làm phép lạ đầu tiên là biến nước thành rượu ở trong tiệc cưới và lần cuối cùng trong tiệc ly ngài cũng biến nước thành rượu. Thực ra đó là phép luyện tinh hóa khí. Người nào biết cách lấy vật tầm thường nơi thận thủy ( nước ) biến thành rượu ngon là lễ vật dâng cho Thượng Đế thì người đó được sống đời đời như lời Chúa dạy . Toàn bộ cuốn Kinh Thánh Tân Ước kể lại cuộc đời hành đạo của Chúa Jesus . Nếu ai chịu suy gẫm sẽ thấy trong đó thể hiện đầy đủ bí pháp tu luyện y như phép tu Tiên Phật mà ngày nay Đức Ngô thể hiện cho loài người nhận thức . Kinh Thánh nói Đức Chúa sinh ra bởi mẹ đồng trinh , đó là nói đến sự sinh hóa tiên thiên mà Đức Ngô gọi là sinh sinh hóa . Đức Chúa khi sinh ra được đưa đi lánh nạn về hướng Tây còn những trẻ ở lại đều bị giết hết . Đó là chỉ sự siêu thăng Tây phương Phật, nếu không thăng theo nghịch hành của đạo pháp thì chỉ có chết theo lý tự nhiên . Đến khi bỏ xác Chúa lại dùng cái chết để chỉ cho nhân loại con đường sống : thập tự là lý đạo nhiệm mầu. Hà Đồ hay bát quái tiên thiên phương thoát khổ của nhân loại. Đức Ngô cũng dùng rất nhiều cách để chỉ bí pháp cho nhân loại . Ngài cũng dùng cái chết để chỉ cho những ai biết tin và tầm lý nhiệm mầu . Trên sông Tiền , tại Tân an , màu vàng của da người là thể hiện đạo quả nơi thân của mỗi ai chứng ngộ . Đạo pháp nhiệm mầu được chỉ bày nhiều lắm ai có lòng thì thấy là hiểu, nói không hết được ! Kính .






 

Trung ngôn

Active member
dong tam nói:
1.Trước hết, người đọc có thể hiểu đây là lần giáng cơ của Đức Ngô Minh Chiêu (Ngô Đại tiên) nhưng sau khi đọc nội dung thì thấy cách hành văn và ý tứ của Đức Jesus nhiều hơn. Đọc phần thơ xưng danh này có thể hiểu là Đức Ngô chính là Đức Chúa Jesus. Có thật thế không hay không phải thế?
Kính Huynh dongtam,
Để trả lời chính xác câu hỏi này thật sự khó bởi lẽ Thánh ngôn cho thấy là "vầy", văn phong cho thấy "vậy"; vậy thì muốn chắc thì phải hỏi Ngài thôi.
Riêng TN thì nghĩ đấy chỉ là một.

dong tam nói:
2. Vậy làm sao có thể xác định đây là một lần giáng cơ của Đức Jesus chứ không phải của Đức Ngô?
TN có đọc qua một số bài Thánh ngôn, thông thường thì thấy khi đức Ngô giáng đàn xưng danh (các danh xưng liên quan đến Chúa Jesus) thì dùng ngôn ngữ của Chúa Jessu đã dùng với đại từ "Ta"; Văn phong cũng có sử dụng từ ngữ thường thấy trong Kinh thánh.
Thực ra, Thầy giáng trần qua mỗi thời kỳ, tên gọi khác nhau chút ít, song vẫn chỉ là một.
Để trả lời câu hỏi khó này, TN phải hỏi Ngài mới có thể trả lời được cho Huynh. Sức của TN chỉ đến đấy thôi.
Hic.
Kính.
 

Trung ngôn

Active member
Trung Hưng Bửu Tòa, ngày 23-01-ĐĐ.31 (Bính Thân)
(05-3-1956)

THI

NGÔ tâm tịnh định Đạo tâm khai,
MINH triết tọa vong yểu yểu đài;
CHIÊU khách nguyên căn truyền Thánh Đức,
Giáng long phục hổ luyện Chơn Thai.

Bần Đạo chào chư môn đệ.
Bần Đạo đến giờ nầy để lời Bí quyết cho chư Hiền đồ công phu học Đạo hầu rèn luyện con người trở thành một Chơn Tiên có đủ Thánh linh để ra độ Đời cứu chúng trong ngày tới đây. Ngày tới đây là một ngày đen tối, nhơn loại sắp bước vào quảng đường âm u. Nếu những Thánh môn đệ tử mà không có một Thánh thể viên minh, một Thánh tâm linh giác để làm ngọn đuốc đưa đường cho lúc ban đêm mờ mịt. Nếu ta không được tâm ấy, thân ấy thì có khác gì kẻ kia cùng nhau u ám. Vậy nên người Hướng Đạo ngay bây giờ phải hạ thủ công phu để rèn luyện cái tâm thể cho được thanh tịnh thanh cao hầu tiếp lấy Thánh linh, thông công cùng vũ trụ, mà muốn có Thánh linh, muốn thông công cơ Tạo hóa phải tịnh dưỡng thường xuyên, diệt phiền trừ dục, mới giao tiếp cùng lằn điển vô trần đương vận chuyển khắp bầu trời bao la vô tận, nên chi THẦY hằng khuyên nhắc mỗi đệ tử trong Thánh môn phải tự nâng mình được xứng đáng ngang với Quyền Pháp đã ban trao, thì giá trị cao trọng mới được thế gian tôn kính. Mà ai được Quyền Pháp xứng đáng kia? Chỉ có người trọn vẹn đầy đủ đức tin. Người có đức tin là người thời thường cầu nguyện. Người đã không còn đặt mình vào nơi nào mà phải được THẦY chỉ định, nếu ta đứng chỗ đông người mà muốn cho mọi người trông thấy nghe tiếng nói của ta, thì không có ai trong đám thấy và nghe bao giờ? Vì vậy ta tìm chỗ vắng vẻ mà đến, mọi người được trông, nói trong đồng trống mà mọi người được nghe, tên ta bốn biển ca ngợi. Vì ta là khâm sai của THẦY, ta hằng ca ngợi THẦY niệm tưởng danh THẦY, thì danh ta cũng được thế gian niệm tụng. Nên người Hướng Đạo hay là cả môn sinh phải sống liền cùng THƯỢNG ĐẾ, không một cành hoa nào tách rời thân cây mà còn tươi đẹp và kết quả, nên chư Hiền đồ phải dính liền với THƯỢNG ĐẾ, được THƯỢNG ĐẾ điều khiển không thối thác, không từ nan, không sợ khổ, sợ nguy mà có chịu đựng được thì mình được cứu một sự xứng đáng. Nghĩa là uống được chén đau khổ cho đời thì đời mới hết đau khổ mà mình cũng không còn đau khổ. Nếu kẻ nào lo cứu mình mà không nghĩ lo cứu đời thì kẻ ấy không khi nào được cứu. Vì là lòng ích kỷ nhỏ hẹp thì sự cứu rỗi không trông tới được, mà phải có lòng bác ái vô biên, lòng ấy là Tâm linh của vũ trụ, mà tâm linh ở đâu thì sự sống hằng có mà giống lành cũng do đấy mà nứt nở, nên phải có lòng ấy, muốn có lòng ấy phải quên thân mình, mà thân mình được quên thì thân Bồ Tát lại hiện, muốn có tâm Bồ Tát phải làm bao nhiêu điều cần yếu:
1- Đức tin hồi hướng về THƯỢNG ĐẾ
2- Ngôn ngữ cử chỉ hành động đều để cúng dường cho THƯỢNG ĐẾ.
3- Thân phận được hiến trọn cho quyền năng THƯỢNG ĐẾ
4- Vô vọng, vô dục mà tiếp giao liên kết cùng THƯỢNG ĐẾ.
BÀI

Cửa Trời mở chín tầng mây,
Điển quang xán lạn Đông Tây ngập tràn.

Lần ba THẦY mở màng Đạo Pháp,
Đem chúng sanh qui họp một nhà;
Bốn phương trong cõi Ta Bà,
Hưởng cơ Tận độ LONG HOA dự kỳ.

Muốn nên Tiên: Vô vi Thanh tịnh,
Muốn về THẦY: Nhất lịnh tưởng tin;
Muốn tha, sớm tối cầu xin,
Muốn thành Bồ Tát, muôn nghìn công phu.

Đạo muốn thành phải tu tánh mạng,
Luyện thân tâm để gạn Thánh phàm;
Phàm tâm danh lợi còn tham,
Sắc tài còn luyến sao làm được Tiên?

Tiên Phật không ưa quyền muốn tước,
Tâm thương đời là phước trường sanh;
Ngày mai Giáo hội hoàn thành,
Ngày nay phải có pháp lành được trao.

Trao cho người thanh cao Bồ Tát,
Luyện thuốc lành cứu các nguyên căn,
Bịnh đời trăm chứng khó khăn
Thuốc linh mới thể trừ căn bịnh tình.
Bần Đạo chào chư Hiền đồ./.
 

dong tam

New member
Nhớ lại,

Cách đây vài năm có thành viên cho đăng một bài thơ bát cú kèm theo tấm hình đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc được làm theo kỷ thuật quang học, khi nhìn trực diện là hình Hộ Pháp nhưng nhìn ở góc độ hoặc bên trái hay bên phải thì lại là hình đức Jesus hay Di Lạc Vương!

Và có người giải thích rằng tiền thân của Phạm Hộ Pháp là Jesus còn tương lai chính là Di Lạc

Hình như sau những kiến bất đồng, bài thơ và tấm hình được cho vào lưu trử!

Trở lại lời thơ trong bài Thánh giáo ngày 09.9 ĐĐ 31. "Ngô Đạo mở sơn hà", dịch nghĩa sang tiếng Việt: Đạo Ta mở núi sông.

Nhưng khi nói về văn phong thì cụm từ "các ngươi" được lập đi lập lại nhiều lần mang đậm phong cách của Kinh Thánh! Chứ không phải những từ như: thánh linh, chén đau khổ, v.v...

Mỗi người có phong cách hành văn riêng, không lẫn lộn với nhau. Vì thế tuy cũng đồng là NGÔI HAI nhưng Jesus là Jesus, Ngô Đại Tiên là Ngô Đại Tiên.

Cũng như không thể nói Jesus là Chúa Trời hay Ngôi Hai Giáo Chủ Ngô đại Tiên là Cao Đài Tiên Ông mặc dầu chính Thầy đã nhiều lần nói: "Thầy là các con. Các con là Thầy".

Tóm lại, bài Thánh giáo này tác giả là Christ (Đấng được xức dầu): JESUS chứ không phải là Ngô Đại Tiên. Đây chỉ là sự ngẩu nhiên trùng hợp nếu đọc theo khoán thủ.
 

Hao Quang

New member
Kính HT,ĐM
Nói đức Ngô hay đức chúa đều có điểm giống nhau về mặt tu luyện thì cũng có thể giống với Đức Phật, Đức Huệ Năng, ….những ai đã đắc đạo tùy mức độ cao thấp khác nhau…..vì cách tu tuy khác nhau nhưng cùng một điểm chung:” tinh hóa khí, khí hóa thần, thần hườn hư, hư hườn vô …” đại loại thế! Vì HQ chưa tu nên chưa biết
<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:eek:ffice:eek:ffice" /><o:p></o:p>
HQ có đọc một đoạn thánh giáo đại ý như vậy:
<o:p></o:p>
Khi cõi vô hình muốn đến hữu hình thông qua điễn quang, hay điễn lực gì đó!
Một người tu luyện là đang hội tụ điển quang người tu càng cao thì điển quang này lan tỏa càng rộng! người phàm kg thấy được! nhưng có một cách có thể thế thấy được điển quanfg xung quanh người đó ……như khi xưa và cả ngày nay ta nhìn thấy đức phật hay những vị tu cao mà có để lưu lại ảnh thì trên đầu và xung quanh đầu thấy có ánh sáng tỏa ra khắp nơi! Biểu hiện đã đắc đạo!
<o:p></o:p>
Ba ngàn thế giới bao la …cửu phẩm thần tiên, …thì những người đắc đạo hoặc cổ phật ở những tầng trên cùng! Khi các vị phật này giáng điển xuống thế gian dạy bào loài người thì cũng cực khổ lắm! cũng vì cái âm trượt rất nặng nề….
<o:p></o:p>
Ví như Đức Quan Thế âm, đức Hộ Pháp , hay Đức Phật ở tầng trên cùng mỗi khi giáng điển xuống thế gian không phải các Ngài giáng từ nơi này!
<o:p></o:p>
Mà theo HQ biết khi các Ngài Đắc Đạo thì hào quang ánh sáng tỏa ra khắp cùng! Trước khi về với đất phật thì các Ngài “trích” một phần điễn quang của mình lưu lại một nơi nào đó gần Tam giới ( đại loại thế) nơi đó gọi là…. HQ nhớ nhớ là “ Đại Hải Quang hay biển quang gì đó)! những ai đắc đạo đều phải thực hiện công việc này để trợ giúp Thượng Đế vì Thượng Đế và các đấng rất cần những điển quang này cũng là thể hiện sự thương yêu nhân từ của các Ngài đối với nhơn sanh vạn giáo! ( nên Thầy và các đấng luôn bảo tín đồ phải công phu! Vì trong quá trình công phu mới tạo ra những điển quang này)
<o:p></o:p>
Khi một tín đồ nào liên tưởng hay cầu khẩn các đấng nào đó một điều gì thì tự khắc những điển quang của đấng đó ở nơi này giáng trần để dạy bảo! chứ kg phải các đấng ở trên cao xa tít mù !
<o:p></o:p>
Khi đó một đấng nào đó có dạy điều gì thì mượn điển quang của đấng đã giáng xuống trần để dạy
<o:p></o:p>
Nên khi giáng cơ tuy là của đấng này nhưng lại được các đấng khác dạy bảo! nếu các đấng không thông báo trước thì dễ bị nhầm lẫn
<o:p></o:p>
Ví dụ như điển quang của Đức cửu vị nữ phật giáng trần dạy bảo thì Đức Mẹ có thể dạy bảo qua điển quang của Cửu vị nữ Phật!
<o:p></o:p>
Hay Điển quang của Đức Ngô thì có thể Đức Chúa “mượn” điển quang này để dạy bảo!
<o:p></o:p>
Nên khi một bài giáng cơ mà có tới hai đấng cùng dạy có thể dễ lầm lẫn nếu đấng đó kg thông báo trước!
<o:p></o:p>
Như bài trên:
Nếu để ý mở đầu bài giáng cơ và kết thúc bài giáng cơ đều có câu:
“Bần Đạo chào chư Hiền đồ./.”
<o:p>còn bài thi :</o:p>
<o:p>CHRIST đến lần ba,
NGÔ đạo mở sơn hà;
ĐẠI đồng qui vạn giáo,
TIÊN Phật cũng là Ta.</o:p>
<o:p></o:p>
<o:p>có thể là một "thông báo" trước! </o:p>
<o:p></o:p>
Phần còn lại là lời dạy của Đức Chúa!

(rảnh HQ lục lại bài thánh giáo đó để HTĐM xem)
chúc HTĐM vui vẻ
 

dong tam

New member
Gần cuối bài Thánh giáo có đoạn:

"Kỳ tịnh này các ngươi muốn đón lấy Thánh linh, phải có Thần Thánh linh nơi người. Thần Thánh linh nơi người của các ngươi không hiện ra thì làm sao có Thần Thánh linh nơi Trời ngự đến, các ngươi đừng cho lũ ma quỉ quanh quẩn sau trước nơi nhà, các cửa kia đóng lại mà tỉnh thức chờ khi nào có tiếng gọi thì dậy mà hầu Ta nghe dạy!"

Mùa Giáng sinh cũng là mùa Đông Chí. Một mùa tu "quan trọng nhất" trong năm.

Ngày Đông Chí là ngày 22.12. Giờ giao tiết năm nay là 13g - 14g thứ năm 22.12.2011..

"Nhứt dương sơ Phục" theo Dịch Lý là thời điểm này! Đây là thời khắc của bước một. Không có bước một thì sẽ không có những bước kế tiếp.

Nói cụ thể, nếu không tịnh vào NGÀY ĐÔNG CHÍ thì việc phục hồi chơn dương Tiên Thiên không có thì cho dù sau đó trong suốt cả năm dầu có tịnh nhưng phần chơn dương đã hao tán bỡi những hoạt động đã qua trong suốt năm cũng khó hồi phục hữu hiệu.
 
Kính thưa quý Huynh Tỷ ?
Đọc bài thi :

CHRIST đến lần ba,
NGÔ đạo mở sơn hà;
ĐẠI đồng qui vạn giáo,
TIÊN Phật cũng là Ta.

Thích Học Đạo thấy đây là Đức Ngô giáng dạy chứ không phải Đức Chúa Jesus . Câu CHRIST đến lần ba là chỉ Đức Ngô , còn nếu là Chúa Jesus thì phải nói : CHRIST đến lần hai . CHRIST có nghĩa là đấng cứu thế . Đức Chúa JESUS đến cứu độ thế gian vào thời kỳ thứ 2 còn ĐỨC NGÔ là đấng cứu thế lần 3 .
Đức Chúa JESUS trước khi chết trên thập tự đã nói trước với người đệ tử yêu quý nhất : Ngươi chối ta 3 lần trước khi gà gáy . Đức Ngô có nói : Tiên truyền Tân Dậu Phủ Chiêu thọ . Đố quý Huynh chứ chữ Tân Dậu mà Đức Ngô nói ở đây là gì ? Tại sao ngài thọ Tân Dậu từ Tiên Ông ? .-Bí pháp ! Đó là Thánh Linh hiện ra trong mỗi người tu chứng .
 

dong tam

New member
Đức Ngô khi giáng cơ, nếu ở các nhà đàn của Chiếu Minh thì xưng là thầy và gọi các đệ tử, còn nếu giáng cơ trong các Hội thánh bên phổ độ thì xưng tiên huynh chứ không xưng là "thầy" hay "Ta".

Văn phong sử dụng những từ như: "Ta", "các ngươi", v.v... là đặt trưng của Kinh Thánh.

Phần lớn Thánh giáo của các Hội thánh trong DDTKPD đều có những đàn do Đức Gia Tô giáng dạy.

Nếu bài Thánh giáo này mà các bạn cho rằng không phải của Đức Chúa thì các bạn có thể cung cấp một bài Thánh giáo nào khác trong nguồn TG của Truyền Giáo do Đức Chúa giáng cơ hay không?

Nếu không có thì buồn lắm đó!
 

Trung ngôn

Active member
Trung ngôn nói:
Trung Hưng Bửu Tòa, ngày 23-01-ĐĐ.31 (Bính Thân)
(05-3-1956)

THI

NGÔ tâm tịnh định Đạo tâm khai,
MINH triết tọa vong yểu yểu đài;
CHIÊU khách nguyên căn truyền Thánh Đức,
Giáng long phục hổ luyện Chơn Thai.

Bần Đạo chào chư môn đệ.
Bần Đạo đến giờ nầy để lời Bí quyết cho chư Hiền đồ công phu học Đạo hầu rèn luyện con người trở thành một Chơn Tiên có đủ Thánh linh để ra độ Đời cứu chúng trong ngày tới đây. Ngày tới đây là một ngày đen tối, nhơn loại sắp bước vào quảng đường âm u. Nếu những Thánh môn đệ tử mà không có một Thánh thể viên minh, một Thánh tâm linh giác để làm ngọn đuốc đưa đường cho lúc ban đêm mờ mịt. Nếu ta không được tâm ấy, thân ấy thì có khác gì kẻ kia cùng nhau u ám. Vậy nên người Hướng Đạo ngay bây giờ phải hạ thủ công phu để rèn luyện cái tâm thể cho được thanh tịnh thanh cao hầu tiếp lấy Thánh linh, thông công cùng vũ trụ, mà muốn có Thánh linh, muốn thông công cơ Tạo hóa phải tịnh dưỡng thường xuyên, diệt phiền trừ dục, mới giao tiếp cùng lằn điển vô trần đương vận chuyển khắp bầu trời bao la vô tận, nên chi THẦY hằng khuyên nhắc mỗi đệ tử trong Thánh môn phải tự nâng mình được xứng đáng ngang với Quyền Pháp đã ban trao, thì giá trị cao trọng mới được thế gian tôn kính. Mà ai được Quyền Pháp xứng đáng kia? Chỉ có người trọn vẹn đầy đủ đức tin. Người có đức tin là người thời thường cầu nguyện. Người đã không còn đặt mình vào nơi nào mà phải được THẦY chỉ định, nếu ta đứng chỗ đông người mà muốn cho mọi người trông thấy nghe tiếng nói của ta, thì không có ai trong đám thấy và nghe bao giờ? Vì vậy ta tìm chỗ vắng vẻ mà đến, mọi người được trông, nói trong đồng trống mà mọi người được nghe, tên ta bốn biển ca ngợi. Vì ta là khâm sai của THẦY, ta hằng ca ngợi THẦY niệm tưởng danh THẦY, thì danh ta cũng được thế gian niệm tụng. Nên người Hướng Đạo hay là cả môn sinh phải sống liền cùng THƯỢNG ĐẾ, không một cành hoa nào tách rời thân cây mà còn tươi đẹp và kết quả, nên chư Hiền đồ phải dính liền với THƯỢNG ĐẾ, được THƯỢNG ĐẾ điều khiển không thối thác, không từ nan, không sợ khổ, sợ nguy mà có chịu đựng được thì mình được cứu một sự xứng đáng. Nghĩa là uống được chén đau khổ cho đời thì đời mới hết đau khổ mà mình cũng không còn đau khổ. Nếu kẻ nào lo cứu mình mà không nghĩ lo cứu đời thì kẻ ấy không khi nào được cứu. Vì là lòng ích kỷ nhỏ hẹp thì sự cứu rỗi không trông tới được, mà phải có lòng bác ái vô biên, lòng ấy là Tâm linh của vũ trụ, mà tâm linh ở đâu thì sự sống hằng có mà giống lành cũng do đấy mà nứt nở, nên phải có lòng ấy, muốn có lòng ấy phải quên thân mình, mà thân mình được quên thì thân Bồ Tát lại hiện, muốn có tâm Bồ Tát phải làm bao nhiêu điều cần yếu:
1- Đức tin hồi hướng về THƯỢNG ĐẾ
2- Ngôn ngữ cử chỉ hành động đều để cúng dường cho THƯỢNG ĐẾ.
3- Thân phận được hiến trọn cho quyền năng THƯỢNG ĐẾ
4- Vô vọng, vô dục mà tiếp giao liên kết cùng THƯỢNG ĐẾ.
BÀI

Cửa Trời mở chín tầng mây,
Điển quang xán lạn Đông Tây ngập tràn.

Lần ba THẦY mở màng Đạo Pháp,
Đem chúng sanh qui họp một nhà;
Bốn phương trong cõi Ta Bà,
Hưởng cơ Tận độ LONG HOA dự kỳ.

Muốn nên Tiên: Vô vi Thanh tịnh,
Muốn về THẦY: Nhất lịnh tưởng tin;
Muốn tha, sớm tối cầu xin,
Muốn thành Bồ Tát, muôn nghìn công phu.

Đạo muốn thành phải tu tánh mạng,
Luyện thân tâm để gạn Thánh phàm;
Phàm tâm danh lợi còn tham,
Sắc tài còn luyến sao làm được Tiên?

Tiên Phật không ưa quyền muốn tước,
Tâm thương đời là phước trường sanh;
Ngày mai Giáo hội hoàn thành,
Ngày nay phải có pháp lành được trao.

Trao cho người thanh cao Bồ Tát,
Luyện thuốc lành cứu các nguyên căn,
Bịnh đời trăm chứng khó khăn
Thuốc linh mới thể trừ căn bịnh tình.
Bần Đạo chào chư Hiền đồ./.

Kính HTDM,
Trong bài Thánh ngôn đã đăng lần trước, TN nêu lên từ "Thánh linh" được Đức Ngô Đại Tiên nhắc tới nhiều lần.
Cũng theo lời Hiền Huynh Thich Hoc Dao đã dẫn thì chúng ta cùng xem xét: Thánh linh là gì??
TN chưa biết được, xin giải đáp.
Cám ơn Quý HTDM thật nhiều.
 

dong tam

New member
CHÚNG TA THAM KHẢO MỘT SỐ ĐÀN, ĐỨC CHÚA GIÁNG CƠ:

CAO ĐÀI TÁ THẾ ĐỘ TOÀN LINH

Minh Tân 26.11 ĐĐ 26 Tân Mão (24.12.1951)

Thi
Vân màu tuyết phủ cảnh trời xanh,
Trung hiếu nặng mang gắng chí thành;
Tử phận đành vui vì nghĩa vụ,
Giáng đàn có lịnh lúc tam canh.

Chào chư hiền nam nữ đàn trung. Chiếu lịnh tất cả nữ nam nghiêm trang trật tự hầu lịnh, có Gia Tô lâm đàn.

Thi
Tịnh đàn nam nữ sắp nghiêm trang,
Tuần tự đôi bên giữ thẳng hàng;
Lóng tiếng nghe qua cơ giáo lý,
An lòng điển chiếu để lời ban.

Ta giả từ xuất cơ.

Tiếp Lịnh Thi

Gia truyền Đạo lý chỉnh đời tân,
Tô đức lưu danh rạng ánh ngần;
Giáo hóa kỳ ba mau tỉnh thức,
Chủ khuyên môn đệ kíp nhanh chân.
Giáng đàn nhắc lại lời tiên đoán,
Điển chiếu mây lành hưởng đặc ân;
Minh đức thông tri kim cổ sử,
Tân thời hoán cải tạo nền nhân.

Ta mừng tất cả chư môn đồ!

Thi
Văng vẳng đêm thanh tiếng giáo truyền,
Lời lành đề bút nhủ và khuyên;
Đường đời lắm lúc cơn nghiêng ngửa,
Nẻo đạo trong thời dựng nghiệp yên.
Cửa Khổng lưu danh năng luyện tập,
Sân Trình roi dấu hạ Thiền miên;
Bước vào thế kỷ hai mươi mãn,
Đại Đạo chung lo sẽ toại nguyền.
Ta miễn lễ chư hiền được tọa thiền lóng nghe.

Thi
Mây nước Trời xây cảnh nhộn nhàn,
Đeo mang danh lợi chịu sầu than;
Bàn cờ sắp đặt e cơn bí,
Máy Tạo bày phô hiệp nhứt tràng.
Bác ái roi truyền cơ giáo lý,
Từ bi noi dấu đến Tiên đàn;
Chung quy kết cuộc đồng như một,
Thấu triệt cơ Thiên rõ cảnh nhàn.

Nầy hỡi chư môn đồ ôi! Đến nay là bước vào giai đoạn khổ chung. Ấy là thế kỷ hai mươi nầy, lại cũng là ngày kỷ niệm, Ta tái thế chuộc tội toàn linh. Trong thời kỳ đã trải, ngậm ngùi lại chuỗi thời gian trót hơn ngàn năm dư và cũng sắp đến ngày tận diệt của trần thế. Nên chi

Bài
Đấng Phụ Hoàng mở Đạo kỳ ba,
Câu nhơn nghĩa phục hòa cùng nhơn loại;
Lấy chủ nghĩa từ bi bác ái,
Bước đại đồng lập lại thuần phong.
Chung nhơn loại sống trong hoàn vũ,
Tạo nhơn hòa hội đủ cả toàn linh;
Là kỳ chót Đạo Huỳnh tràn khắp chốn,
Ôi! Kể từ đây biết bao là hỗn độn.
Nạn đao binh khốn đốn cả nhơn loại,
Sự còn mất đỗi thay trong nháy mắt;
Hỏi môn đồ giờ đây tu tắt,
Nương cùng nhau dìu dắt buổi đời nguy.
Toan bước đến trường thi đại hội,
Ôi! Kể từ đây trần gian như tơ rối;
Sẽ rõ tường tiếng dội khắp đâu đâu,
Nhìn cảnh vật biển dâu giờ thay đổi.
Giờ cùng tận Ta đây thúc hối,
Hiểu thông tường tìm cội phản hồi nguyên;
Nếu trễ bước lụy phiền cam chịu lấy,
Buổi kỳ ba Ta đây nhìn thấy.
Cả môn sinh quyền cậy ép dân lành,
Quên lời ngọc đành rành trước dạy;
Giờ hôm nay Ta đây trở lại,
Tá trần gian sửa cải lịnh chung đồng.
Dầu Âu Á cũng đồng nhứt mạch,
Ráng thông tri chớ trách kẻo đọa đày;
Buổi tân khổ Ta đây không đoái tưởng,
Chiếu Thiên luật từ đây chẳng dung dưỡng.
Luật công bình liệu lượng khó phân qua,
Dầu khổ nhọc kỳ ba cố tiến;
Nhắc tích cũ còn lưu sử truyện,
Biết bao điều muôn miệng thế gian cười.
Nào ép xác thây người máu chảy,
Chuộc tội hình Ta thấy thảm lòng đau;
Cây Thánh giá buộc vào cam chịu lấy,
Hỡi môn đồ xem thấy có đau thương.
Đinh đóng móc đoạn trường đau quặn thắt,
Vì thương chủng loại giờ đây Ta nhắc;
Buổi kỳ ba thời khắc đạo vàng khai,
Chư môn đệ chớ phai cơn khảo đảo.
Chuộc tội hình lời đây chỉ giáo,
Cứu nhơn loài là đạo buổi hôm nay;
Dầu lao lý đắng cay chớ nản,
Chữ dung hòa căn bản tạo nền nhân.
Dầu khổ nhọc tinh thần vững bước,
Nhắc chuyện cũ là nơi mực thước;
Tam giáo nào có được yên chăng ?
Khi tá thế nhọc nhằn cam khổ nhọc.
Nào đánh đập khổ lao hình vóc,
Buộc vào cây đóng nọc gớm ghê;
Chuộc tội lỗi bao nệ vì nhơn loại,
Kể từ đây đồng chung nhau lại.
Chữ dung hòa lẽ phải để làm gương,
Khuyên sanh chúng noi đường chánh giáo;
Giờ thống khổ rõ lời Ta giáo,
Buổi quy nguyên các Đạo tạo đời tân.
Dầu ngoại giáo ân cần tưởng đoái,
Chí đại đồng gieo rải chữ thương yêu;
Chung nhơn loại dắt dìu kỳ thống khổ,
Nạn nhơn loại phải cam thống khổ.
Phận môn đồ báo bổ phải xớt chia,
Sao sao cũng danh bia hậu thế;
Muốn đặng rõ tương lai đừng trễ,
Bước đạo trời tìm kế cứu sanh linh.
Cơn nước lửa ngục hình ra khỏi chốn,
Giờ tàn tạ chung nhau lo chỉnh đốn;
Buổi thế tàn xáo lộn khó tường phân,
Chuông cảnh tỉnh xa gần nguyên nhơn tua tỉnh thức.
Tỉnh thức đặng hiệp lực chống chèo mau,
Thuyền bát nhã chung vào thẳng dặm;
Buồm chơn lý giữ lèo toan cố gắng,
Kịp thời cơ dặm thẳng tiến nhanh lên.
Cần phải giữ tâm bền và nhẫn nại,
Muôn sự thành hoán cải đời sau;
Với sự hành kíp mau đừng trễ,
Sắc lịnh truyền tìm kế lo xong.
Cơ thống nhứt đại đồng giờ tiền định.

Thi
Tiền kiếp xưa kia cũng bởi vì,
Tân trào Việt quốc sử còn ghi;
Môn sinh đày đọa đành vay trả,
Giờ phút nầy đây hợp nhứt quy.

Bài
Giữa thế kỷ hai mươi tận diệt,
Kỷ niệm nầy cho biết vị lai;
Tân dân minh đức là ngày,
Đại Đồng sanh chúng chẳng hai con đường.
Buổi tận khổ tìm phương lo liệu,
Sự tu hành am hiểu đời xây;
Giờ đây hiệp lại sum vầy,
Cao Đài tá thế độ rày toàn linh.
Chư môn đồ đinh ninh lời giáo,
Có tiên tri thấu đáo lời nguyền;
Căn xưa trở bước chung thuyền,
Sống chung nhơn loại chẳng riêng khác nào.
Đàn hôm nay âm hao Ta phán,
Cơ diệt tiêu rõ hãn tường thông;
Đồng lo cứu thế một lòng,
Thoát qua cảnh khổ Hoa Long hưởng nhàn.
Hỡi môn đồ! Ta than Ta thở,
Buổi kỳ ba Ta trở lại trần;
Cứu đời trong lúc tao tân,
Chung nhau lần bước chư Thần hộ che.
Đường chơn lý kiên dè tâm trí,
Máy huyền cơ diệu lý cao sâu;
Chuyển cơ lập lại Đạo mầu,
Cậy tay Đồng Tử giải câu thi bài.
Điển chiếu sáng lần tay miệng đọc,
Khuyên môn đồ khối óc tinh ba;
Giờ đây chung lại một nhà,
Sống chung đồng mạch âu ca thái bình.(…)
 

QUANG

New member
Tu là sửa, chỉ vậy thôi.
Không sửa thì không phải là tu.
Nhưng không sai thì không sửa.
Biết sai, biết sửa thì là tu vậy.
 

nguyennhantu

New member
Kính thưa quý HTDM;
Kinh Thánh có viết : Thánh Giăng khi làm phép rửa tội cho Chúa JESUS có nói : Ta làm phép rửa tội bằng nước , còn ngài sẽ làm phép rửa tội bằng Thánh Linh . Vậy Thánh linh là hiện tượng rửa tội thật sự từ chính bản thân người tu luyện . Cao Đài giáo có phép tắm thánh và giải oan . Đó là hình thức tín ngưỡng tôn giáo còn phép giải oan tắm thánh thật sự của Cao Đài Đại Đạo là tự bản thân người tu luyện tạo ra thứ nước Ma Ha do quá trình tịnh luyện mà có .


Nước Trời , Trời cứu con nhà,
Cứu con thoát khỏi ái hà tham sân .
Đây là nước Thiên ân dành định,
Định rưới cho thức tỉnh kẻ mê .


Người tu mà không tịnh định được thì không có nước nầy . Không có nước nầy thì không thể thoát khỏi biển khổ ái ân và lửa tham sân đốt cháy. Chuyện Tây du ký nói về bí quyết lấy nước nầy ở đoạn hỏa diệm sơn .

 

1234

Active member
Kính - Cùng huynh nguyennhantu

Đó là hình thức tín ngưỡng tôn giáo còn phép giải oan tắm thánh thật sự của Cao Đài Đại Đạo là tự bản thân người tu luyện tạo ra thứ nước Ma Ha do quá trình tịnh luyện mà có .

Bác sĩ, thuốc men là tha lực , trợ lực nhưng ... con bệnh có tự ý thức được mức độ bệnh tình, nguyên nhân => bệnh và cũng để từ đó tuân thủ nghiêm ngặt các quy chế hướng dẫn của y bác sĩ ... và cách sữ dụng thuốc , nếp sinh hoạt, ăn uống => phòng ngừa bệnh phát tác , phát triển => dứt bệnh ! Đó cũng là 1 phần lớn đòi hỏi sự nổ lực và có niềm tin mạnh mẻ , phấn đấu của tự thân là 1 phần rất lớn . Chứ con bệnh không nên ỷ lại và phó thác bệnh tình của mình vào thuốc và y bác sĩ ( những lực này mang tính tha duyên, trợ lực quyết định 1 nửa , nửa còn lại phần lớn là sự hợp tác tốt của con bệnh )

Với Y Đức - lương tâm nghề nghiệp Y - Bác Sĩ thông thường sẽ không kễ,nói cho bệnh nhân biết được là giai đoạn cuối của những di căn của dạng bệnh ngặt nghèo,phải bó tay ! Mà chỉ bằng cách nào đó an ủi , động viên tạo niềm tin cho bệnh nhân vượt khó .... !

Niêm theo ý huynh 1 tí về Tây Du Ký .
Đơn giản thôi ! Không những qua biết bao nhiêu ách nạn, gặp yêu quái, cám dỗ ... Nếu ngay tại vương quốc Nữ Giới Thầy Trò Đường Tăng mệt mõi trụ lại , sanh con đẻ cái ... an dưỡng ! thì có lẽ chuyện về Tây Trúc cũng coi như ... gảy gánh nửa chừng xuân rồi còn gì ! Đường về vạn nẻo nhiêu khê !

Cơ tận độ cũng hệt vậy ! không giản đơn là cứ phè phè và phó thác cho 1ai đó "bảo kê" bao cấp trọn gói, trọn Tour cho mình ... là mình có lè phè, biếng nhác ...ra sao thì mình cũng đều có vé trên tay và được độ cả ! ?

Mà sau lưng Tận Độ là bức tường dày đặc Thiên Sa .Muốn qua đặng thì chỉ duy người đó phải có Áo Giáp Bào .Mà Áo Giáp Bào này không phải tự dưng mà có ! ( đó cũng đồng nghĩa với loại nước Ma Ha mà huynh nêu ! một cái thì nhờ nước cam lộ Ma Ha mà qua đặng ải Hỏa Diệm Sơn . Một cái nhờ áo Giáp Bào mà qua đặng Sa Mạc đầy Cát Nóng đến cháy chết quéo khô cả người ! )

Trước 1 cái sức nóng : Một là dùng Nước làm Nguội ( nước Ma Ha ) Hai là dùng Hỏa để cân bằng ( không phải là thứ Hỏa Dục - Hỏa Sân ! ), phải có nội lực tạo ra 1 nguồn Nhiệt ( hoặc để nóng tương đương - để thích nghi,tương thích quyết định sự sinh tồn trong cái nóng , cái Nhiệt này Có phải chăng là những vị Tu Học cao họ có 1 thứ Lửa mà đệ từng nghe có lẽ là Lửa Tam Muội ? )

Một chiếc ly Thủy Tinh mỏng manh , dễ vỡ trước một sức nóng có thể ta dùng nước phủ che chúng để hạn chế và cân bằng hoặc làm nguội lạnh đi sức nóng kia có thể dẫn đến => Vỡ Ly
Hoặc là tạo một nguồn nhiệt Nóng bên trong để cân bằng áp suất của cái nóng bên ngoài kia tạo nên .Ly vỡ là do sự chênh lệch Nóng lạnh không đồng bộ trong và ngoài ( ly đang lạnh đột ngột vào nóng hay ngược lại => có thể dẫn tới dễ nứt vỡ ! )

Khí hậu đột ngột thay đổi nóng lạnh=> chúng ta bệnh cũng do cơ thể chúng ta không thay đổi để => đuổi kịp, để thích nghi tương ứng kịp cái nóng lạnh của thời tiết thay đổi đột ngột kia mà cơ thể chúng ta => sanh ra Bệnh
Có hai loại :
+ 1 là dùng Mát khắc Nóng !
+ 2 là dùng Nóng tương đồng , tương thích dùng Nóng chế Nóng
Cuối cùng cũng chỉ là để=> Sinh Tồn .

Nguy nan cảnh Đại Kỳ Ba .
Là cơ tận độ - độ trong - độ ngoài .
Độ hoài mà ... vẫn còn hoài !
Cuối cùng tận độ tự là ... độ ta .
Độ ta - xong mới độ người .
Độ người thì có - độ mình chẳng xong ! ?
Độ trong - còn phải ... độ ngoài .
Độ ngoài thì dễ - độ mình ... ôi thôi ! ?
Cơ Tận Độ là màn : xoay chuyển .
Chớ chẳng là Tận Độ gì đâu !
Bỡi trần thế mê câu : Tận Độ
Cứ bãi bừa - trăm nẻo ... bừa đi .
Tận Độ này có nghĩa là : Khoanh
Khoanh tròn một cuộn rồi => Khoanh Trong - Ngoài
Khoanh tròn rồi Cuộn => để xem !
Xem coi trần thế Cuộn - Khoanh thể nào ! ?
Bỡi trần thế ra câu Tận Độ .
Để phương trình - đáp số : Lặng im !
Bỡi kịch tính trong câu Tận Độ .
Bao kẻ lầm chẳng rõ Mục Tiêu .
Cứ ngỡ rằng Tu sao cũng ... đặng !
Cứ ngỡ rằng Tu sẽ ... về Ngôi ?
Nào có biết sau lưng Tận Độ .
Là bức tường dày đặc Thiên Sa .
Thiên Sa có áo Giáp bào .
Thì con dễ đặng ra - vào Thiên Sa .
Chớ không nói để ... mà chơi !
Thiên Sa dày đặc - ai qua dễ dàng ?
Thôi Ta hé chút Cơ Trời .
Con nghe ráng nhớ - ráng mà lo Tu .

Trên đường Thỉnh Kinh Tây Trúc Thầy trò Tam Tạng ắt nhiên không là đường trãi thảm mà nhiêu khê qua biết bao nhiêu ải gian nan . Hỏa Diệm Sơn huynh nêu là 1 trong những ải khó qua ! Biết bao nhiêu ách nạn. Chỉ cần rớt 1 ải không qua được thì quãng hành trình dài kia cho gần kề tới đích đến cũng kể coi như là 1 dấu Chấm Hết .

Chỉ cần 1 ải nạn thôi mà Thầy trò Đường Tăng mãi loay hoay mà ... không Tự Độ được mình để vượt ra khỏi ải thì => chuyện về Tây Trúc thỉnh Kinh => Phổ Hóa , Phổ Độ chúng sanh là chuyện không thể khả thi được ! và sẽ Chấm Hết .

Và nếu đã như vậy thì => Tích chuyện Tây Du sẽ trở nên là 1 Huyền Ký đầy mộng mơ mà thôi !

Trong Trời Đất còn ẩn vi , ẩn tàng rất nhiều thứ mà người Tu học tầm cầu giải thoát chúng ta rất cần tự đào mài ,truy nguyên, truy tầm để bỗ sung thêm cho hành trang , tư luơng ...mình ! trên chặng đường về => tầm cầu giải thoát gian nan vất vả của chúng ta, để không Chủ quan làm luống uổng Công phu - Công trình, không làm hoang phí cả khoảng thời gian ngắn ngủi trong kiếp phận làm người nhỏ nhoi này ! Không làm luống uổng những gì trong cả một quãng đời Tu để rồi vì chủ quan chúng ta chẳng có được gì cả ! .

Chỉ là vài dòng tản mạn thiển thô - ngu muội của đệ cùng huynh nguyenhantu .
( đây chỉ là cảm nhận riêng và còn ... rất ngu muội mong rằng chư huynh hoan hỹ cho )

Kính .
 

Trung ngôn

Active member
Mời Quý HTDM tiếp tục biết đến Đức Gia tô trong Tam Kỳ Phổ Độ qua bài Thánh ngôn sau.
____________________________

Tịnh Đường. Ngày 25 -12- Nhâm Dần
20-1-1963. Đại Đạo 37

THI:
GIA trì hoằng pháp độ quần lê
TÔ tất hồng ân chủng chủng tề
GIÁO đạo quy chơn Âu Á bổn
CHỦ quyền cứu thế xóa trần mê

Chào chư hiền-sĩ .
Mừng vui giờ nầy các Sĩ Tử được đón ơn Ta, Ta sẽ vui lòng tiếp độ các Sĩ Tử một dạ ở quyền pháp buổi nầy.
Buổi nầy là giờ ngày bởi ơn hứa hẹn mà cơ phục sinh đến cho loài người một lần chót, các Sĩ Tử đặt mình trong đức tin sẽ thấy huyền diệu, sẽ báo hiệu cho biết mọi phép lạ của Cha Lành đã cho đến thế gian.
Ơn Ta sẽ đến cùng các trò, các trò mau mau dọn mình mà đợi lệnh, Ta sẽ xin nơi Cha Trời bằng những phép lạ để vì Ta mà cứu độ quần lê, vì Ta mà hằng từ lân mẫn, cơ cứu chuộc trọn đến cùng người đời. Ngày nầy trên khắp hoàn cầu đều đón đợi ơn Ta, lòng tin mạnh mẽ tưởng cũng hân hoan trọn cứu, song còn một chút khí thể mờ tối của xác phàm nên ơn ấy bị lấp ngăn mà cơ phục sinh chưa hiển hiện, lòng tin tưởng cũng đáng khen ngợi cho khắp lãnh vực giáo quyền, vì trước Ta bởi nơi Trời mà đến, cùng chịu mọi sự khổ với loài người, Ta vì người tội lỗi mà đến đây lòng hoằng trì che chở không muốn để cho một ai dưới thế nầy còn bị một hình phạt nào, dầu lớn hay nhỏ, Ta tin ở quyền pháp của Ta có thể ngăn được tội lỗi, cứu được loài người, vì Ta vô cớ mà bị một cực hình, vô cớ mà lãnh chịu đau khổ nhục nhã máu đào đã chảy thay thế cho loài người, thân phận bị treo trên Thập Tự Giá đó là của chuộc muôn đời. Ta vì người mà thắng mọi cám dỗ của ma vương. Bỏ sự sung sướng bình yên nơi nước Trời, mà muốn cùng loài người mà vui chia khổ sớt.
Ta đến cùng người để làm sống lại lời giao ước ở Thánh Kinh, một nét ngang không dám cải Cha Trời dầu mình là con một trong lẽ đạo .
Loài người hầu hết đã tin nơi Ta, giáo lý cùng khắp trên mặt đất. Song vì người chưa hiểu ơn Ta với chỗ không cùng tận. Đã nói Ta vì người mà đến, đã nói vì người là nói lòng thương vì lòng thương mà không muốn trông thấy cảnh khổ của loài người, nên chịu chết đi sống lại, muốn làm cho ai nấy có một đức tin, để tiện bề cứu độ. Đức tin đã cấy được ở lòng người thì quyết Nước Thiên Đường chắc chắn được về với Cha chung. Ở đức tin vì người chưa nhận chỗ thâm vi của lòng hoằng trì cứu độ ở nơi Ta, ở ngay trong sự sống và tình thương. Vì thương nên đem sự bình yên cho cõi thế, đâu phải đem sự huyền diệu mà dục lòng người phải tin, nếu tin cơ huyền diệu của Ta hay các Đấng nơi Trời thì chưa phải lòng Ta trông đợi vì huyền diệu làm cho kẻ chết được sống, kẻ đau được lành, kẻ đui được sáng, kẻ nghịch được tin là huyền diệu đó không những các Đấng ở nước Trời mới có, mà trong vạn hữu nhơn sanh đều có cả, đều làm được những phép lạ đó cả vì huyền diệu kia là bản tánh thuần túy duy nhất của mọi loài mọi giống mà Trời đã ban cho, nó là sự sống, là tình thương và lẽ thật, hay gọi là Đạo vì loài người hay chúng sanh bỏ sự sống theo sự chết, bỏ lòng thương chứa sự ganh ghét phải xa lẽ thật vui với bào ảnh ảo huyền mà không thấy được phép lạ, không khiến cho kẻ đui được sáng, kẻ bịnh được lành kẻ tà về chánh, mà lòng người hiện nay chỉ biết tin ở phép lạ của Ta, oai lực của Trời mà chẳng cùng Ta mở lòng thương yêu vun tưới cho trăm giống an lành, bốn phương làm một, mà còn nảy sinh tư ý kiêu ngạo cùng người, phân chia ranh giới, làm cho các giống lành bị ẩm thối, lý tưởng nhiều dòng loài người không biết các phương thang cứu bịnh thế gian, tùy theo mỗi chứng mà cho thuốc nên Đức Cha Trời đã hiện ứng hóa nhiều cách độ đời. Vậy loài người nên đặt lại hướng đi, nhắm vào phương châm duy nhất, đó là “sự sống, lẽ thật, tình thương”, đó là quyền pháp cao trọng, là một gốc sinh ra, thì lòng mình mới không ranh giới, mới khỏi ngăn che, mới được bao la, mới cùng Trời Đất, mới có phép lành, mới được cùng Ta hoằng dương chánh pháp. Vậy các trò ngày này mừng Ta, Ta cũng vì lòng tin mà ban cho một con đường phá tư tâm dẹp bản ngã để được cùng Trời làm một cùng vạn vật đồng sanh, vậy nghe Ta dạy:

BÀI:
Ơn Ta nào có riêng ai
Ai người giải thoát Bồng Lai được về
Nước Trời mới thật là quê
Thế gian cõi tạm, ham mê làm gì
Mê rồi lòng dạ chi li
Đời đời lãnh lấy sầu bi khổ hình
Trong Ta có một điểm linh
Nếu không vun tưới Thánh hình khô khan
Lo tu hưởng phước Niết Bàn
Lo tu đem lại an toàn cho nhau
Tu hành cốt phải làm sao?
Làm sao cho trọn cho cao cho lành
Một là học chữ vô danh
Vô công gắng dạ để thành vô vi
Vô vi phát hạnh Từ bi
Chở che bảo bọc thi vi cùng người
Hai là đời sống cho tươi
Hoa thơm trái ngọt để người hưởng chung
Cảnh nào lòng cũng thung dung
Có vui hay khổ không rung chuyển tình
Ba là cùng với vạn linh
Không phân ranh giới để mình lẽ loi
Tu hành nhựt dạ lòng soi
Diệt lòng tham dục, tập noi Thánh Hiền
Công phu công quả cho siêng
Coi nhau là một đừng riêng xa gần
Bốn đừng nhận giặc là thân
Phải lo ngăn đón tham sân lộng hành
Lóng lòng cho tịnh cho thanh
Được thanh được tịnh là thành Kim Đơn
Từ đây quyền pháp để chơn
Giữ còn sứ mạng đón ơn Nước Trời
Khuyên trò sớm biết nghe lời
Kiểm tu thân mạng đừng rời đừng lơ
Thân ta chất chứa đầy nhơ
Nghiệp xưa dồn lại làm mờ linh quang
Xa Thầy lỗi bởi khôn ngoan
Khôn ngoan lắm lúc lầm đàng không hay
Lòng mình mãi mãi đổi thay
Đầu voi đuôi chuột trở day thất thường
Có thân mình mới có thương
Có thương mình mới dẫn đường đưa chân
Nuôi lòng ích kỷ làm thân
Mà ngăn linh tánh nhiều tầng địa phương
Vì mình, mình thích mới thương
Cái thương gây mối tai ương não nề
Cái thương hẹp chật đáng chê
Cái ưa ích kỷ vụng về nên thôi
Để lòng trông đến xa xôi
Hòa quang hỗn tục vun bồi cho nhau
Từ bi nhộm thắm một màu
Khen chê miệng thế hơi nào mà lo
Vô vi sống mới tự do
Qua sông phải tạm lấy đò mà thôi
Không gì mà gọi của tôi
Của tôi của bạn chia đôi ra rồi
Làm sao liền một liền đôi
Đôi ba năm bảy lôi thôi không liền
Bây giờ trò lãnh lời khuyên
Nơi đây tạm sống tạm yên tu trì
Sớm chiều ôn bảo vô vi
Gài then đóng cửa kiên trì luyện phanh
Tu lòng cho chứng cho thành
Đừng mơ bã lợi mối danh loạn thần
Luyện thân cho chứng Kim-thân
Luyện thần cho được thông thần mới nghe
Đừng riêng mà có chỗ che
Đừng chung mà lộn phái phe rày rà
Minh tâm để thấy chánh tà
Dung hòa để được gần xa đẹp lòng
HẬU tình hướng trọn lẽ công
THI ân tế chúng hòa đồng trước sau
CƯ an chiều sớm có nhau
SINH linh còn khổ còn đem để lòng
TUYẾN tu đến chỗ Thầy mong
YẾN sào đợi đủ cánh lông đã trò
Thị phi hơi sức nào lo
Vô tư vô lự để cho viên thành
Chánh tà Thầy đã phân ranh
Gắng công để tiếp bạn lành về sau
XOA lòng sống khổ sống đau
Cho vui lẽ đạo tương rau bạn lành
Nguyệt minh nhựt nhựt luân hành
Cho tròn cho sáng phước lành được ban

THI:
Ban cho đàn nội tiến tu công
TOÀN thiện toàn viên pháp pháp thông
Thiện tín nhứt tâm công quả hệ
Hộ trì hộ pháp chứng công đồng

Mọi sự đã trọn ta cho các Trò. Ta thăng.
 

Facebook Comment

Top