Tìm hiểu Về Cửu Vị Tiên Nương

hien hoa

New member
 
<P =THAN1>Cửu vị Tiên Nương là chín vị Nữ Tiên nơi DTC hầu cận Ðức Phật Mẫu.</P>
<P =THAN1>"Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về Cơ giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về Cơ phổ độ mà Quan Âm Bồ Tát là Ðấng cầm đầu.</P>
<P =THAN1>Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tại cung Nam hải, ở An Nhàn động. Còn Diêu Trì Cung thì ở Tạo Hóa Thiên." <FONT color=#808000>(Trích Luật Tam Thể)</FONT></P>
<P =THAN1><I>Cửu vị Tiên Nương</I> đứng hàng Tiên vị, nhưng theo 5 nấc thang tiến hóa của nhơn hồn (Nhơn, Thần, Thánh, Tiên, Phật) thì Tiên vị còn phải tiến hóa lên Phật vị.</P>
<P =THAN1>Cửu vị Tiên Nương đã lập được nhiều công quả trong thời kỳ khai Ðạo, dẫn dắt các nguyên căn đi vào đường đạo đức để làm tướng soái cho Ðức Chí Tôn khai Ðạo, lại dày công giáo hóa Nữ phái nên Cửu vị Tiên Nương được thăng lên hàng Phật vị, và được gọi là: <I>Cửu vị Nữ Phật.</I></P>
<P =THAN1>Nhiệm vụ của mỗi Tiên Nương nơi cõi TL như sau:</P>
<P =THAN1><FONT color=#ff0000><B>1. Nhứt Nương:</B></FONT></P>
<P =THAN1>Nhứt Nương cầm bửu pháp là đờn Tỳ bà, cai quản vườn Ngạn Uyển nơi từng Trời thứ nhứt trong Cửu Trùng Thiên, đón tiếp các chơn hồn qui Thiên đi lên Cửu Trùng Thiên, xem xét các nguyên nhân đang còn sống nơi cõi trần hay đã qui liễu. Mỗi đoá hoa trong vườn Ngạn Uyển là một chơn linh. Khi chơn linh tái kiếp xuống trần thì hoa nở, khi qui liễu thì hoa héo tàn, khi chơn linh làm điều đạo đức thì sắc hoa tươi thắm, còn làm điều gian ác thì sắc hoa ủ dột xấu xí.</P>
<P =THAN1>Trong một kiếp giáng trần ở VN, Nhứt Nương có tên là HOA. Do đó, khi Nhứt Nương giáng cơ cho thi thì có chữ HOA đứng đầu bài thi.</P>
<P =THI><I>HOA ngào ngạt mùi hương tỏa kín,<BR>Cảm lòng thành điện Thánh nương về.<BR>Khuyên đời mau tỉnh giấc mê,<BR>Lo tu sau khỏi não nề kiếp duyên.</I></P>
<P =THAN1><FONT color=#ff0000><B>2. Nhị Nương:</B></FONT></P>
<P =THAN1>Nhị Nương cầm bửu pháp Lư hương, cai quản vườn Ðào Tiên của Ðức Phật Mẫu ở từng Trời thứ nhì trong Cửu Trùng Thiên, đón tiếp và hướng dẫn các chơn hồn đi lên từng Trời thứ nhì, vào vườn Ðào Tiên, mở tiệc rót rượu trường sanh đãi các chơn hồn, rồi đưa chơn hồn lên Ngân Kiều, có lằn Kim quang đỡ chơn hồn đi lên từng Trời thứ ba.</P>
<P =THAN1>Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Nhị Nương có tên là CẨM, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ CẨM đứng đầu bài thi:</P>
<P =THI><I>CẨM tịch Diêu Cung Tiên vị đắc,<BR>Hạnh phùng vũ lộ sắc Thiên ban.<BR>Ðầy vơi vui hưởng kiếp nhàn,<BR>Ngảnh trần có khác chi tràng mộng xuân.</I></P>
<P =THAN1><FONT color=#ff0000><B>3. Tam Nương:</B></FONT></P>
<P =THAN1>Tam Nương cầm bửu pháp là quạt Long Tu Phiến, đón tiếp các chơn hồn lên từng Trời thứ ba là Thanh Thiên, dùng thuyền Bát Nhã đưa các chơn hồn đi qua biển khổ sang bờ giác ngộ, qui hồi cựu vị.</P>
<P =THAN1>Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Tam Nương có tên là TUYẾN, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ TUYẾN đứng đầu bài thi:</P>
<P =THI><I>TUYẾN nghiệp phàm vô vị,<BR>Ðạo khai dĩ định kỳ.<BR>Hồng ân chan rưới mấy khi,<BR>Bến mê há để lỡ thì độ sanh.</I></P>
<P =THAN1><FONT color=#ff0000><B>4. Tứ Nương:</B></FONT></P>
<P =THAN1>Tứ Nương cầm bửu pháp Kim Bảng, đón tiếp các chơn hồn lên từng Trời thứ tư là Huỳnh Thiên, làm giám khảo tuyển chọn các văn tài trong mỗi khoa thi, ai hiền đức và tài giỏi thì</P>
<P =THAN1>Tứ Nương hộ trì cho thi đậu, để đem tài năng ra giúp đời.</P>
<P =THAN1>Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Tứ Nương có tên là GẤM, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ GẤM đứng đầu bài thi:</P>
<P =THI><I>GẤM thêu hoa càng nhìn càng đẹp,<BR>Ðức thêm tài chẳng hẹp đường tu.<BR>Mặc người lên võng xuống dù,<BR>Lợi danh xạo xự thiên thu lỡ làng.</I></P>
<P =THAN1><FONT color=#ff0000><B>5. Ngũ Nương:</B></FONT></P>
<P =THAN1>Ngũ Nương cầm bửu pháp là cây Như Ý, tiếp dẫn các chơn hồn lên từng Trời thứ 5 là Xích Thiên trong Cửu Trùng Thiên. Nơi đây, chơn hồn được hướng dẫn đến Minh Cảnh Ðài để xem rõ ràng các việc làm tội phước trong kiếp sanh nơi cõi trần, rồi đến cung Ngọc Diệt Hình để mở quyển Kinh Vô Tự, xem quả duyên của mình.</P>
<P =THAN1>Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Ngũ Nương có tên là LIỄU, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ LIỄU đứng đầu bài thi:</P>
<P =THI><I>LIỄU chiều gió xung xăng màn hạnh,<BR>Như để lời cửa Thánh nhắn tin.<BR>Ðạo tâm xin gắng vẹn gìn,<BR>Ðọa thăng hai lẽ nơi mình liệu toan.</I></P>
<P =THAN1><FONT color=#ff0000><B>6. Lục Nương:</B></FONT></P>
<P =THAN1>Lục Nương cầm bửu pháp là Phướn Tiêu diêu hay Phướn Truy hồn, tiếp đón các chơn hồn lên từng Trời thứ sáu là Kim Thiên, hướng dẫn đến cung Vạn Pháp cho chơn hồn xem rõ cựu nghiệp của mình, rồi chơn hồn lãnh Kim sa, được chim Khổng Tước đưa lên Ðài Huệ Hương xông thơm chơn thần, có nhạc Thiên thiều trổi đưa chơn hồn đi lên.</P>
<P =THAN1>Trong một kiếp giáng trần ở nước Pháp. Lục Nương là Thánh Nữ Jeanne d'Arc (1412-1431), đã đánh đuổi quân xâm lăng Anh quốc để cứu nước Pháp. Sau đó, Lục Nương giáng trần ở Việt Nam, tên là HUỆ, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ HUỆ đứng đầu bài thi:</P>
<P =THI><I>HUỆ ân chan khắp toàn nhơn loại,<BR>Vào đường tu phỉ toại kiếp sanh.<BR>Lánh nơi tranh đấu giựt giành,<BR>Nghiệt oan khỏi vướng thân danh vẹn phần.</I></P>
<P =THAN1><FONT color=#ff0000><B>7. Thất Nương:</B></FONT></P>
<P =THAN1>Thất Nương cầm bửu pháp là Hoa sen, tiếp đón các chơn hồn đến từng Trời Hạo Nhiên Thiên bái kiến Ðức Chuẩn Ðề Bồ Tát và Ðức Phổ Hiền Bồ Tát.</P>
<P =THAN1>Thất Nương lại để lòng từ bi, tình nguyện lãnh lịnh Ngọc Hư Cung xuống cõi Âm Quang giáo hóa các Nữ tội hồn cho họ sớm thức tỉnh, để được tái kiếp trả xong căn quả và tu hành.</P>
<P =THAN1>Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Thất Nương có tên là VƯƠNG THỊ LỄ, sanh năm 1900 tại Chợ Lớn, là con gái của ông Vương Quan Trân và Bà Ðỗ thị Sang (con của Tổng Ðốc Ðỗ Hữu Phương). Cô Lễ bị bạo bệnh mất năm Cô 18 tuổi. </P>
<P =THAN1>Thất Nương thường giáng cơ dạy Ðạo và cho thi. Khi giáng cơ cho thi, Cô thường đặt chữ LỄ đứng đầu bài thi:</P>
<P =THI><I>LỄ văn đủ định phân khách trí,<BR>Hạnh đức toàn xứng vị Thánh nhân.<BR>Cõi trần là chốn mê tân,<BR>Dìu nhau lánh giả tầm chân tiếc gì.</I></P>
<P =THAN1><FONT color=#ff0000><B>8. Bát Nương:</B></FONT></P>
<P =THAN1>Bát Nương cầm bửu pháp là Giỏ Hoa Lam, tiếp đón các chơn hồn đến từng Trời Phi Tưởng Thiên, từng thứ tám trong</P>
<P =THAN1>Cửu Trùng Thiên, hướng dẫn chơn hồn đến bái kiến Ðức Từ Hàng Bồ Tát.</P>
<P =THAN1>Bát Nương rất thường giáng cơ dạy Ðạo và cho thi.</P>
<P =THAN1>Bài Phật Mẫu Chơn Kinh mà chúng ta thường tụng khi cúng Ðức Phật Mẫu do Bát Nương giáng cơ ban cho tại Báo Ân Ðường Kim Biên, khi Ðức Phạm Hộ Pháp phò cơ tại đó.</P>
<P =THAN1>Bát Nương giáng trần nơi nước Trung Hoa, vào thời nhà Tây Hán, tên là Bạch Liên (Hoa sen trắng). Bát Nương cũng có giáng trần ở VN vào nhà họ Hồ.</P>
<P =THI><I>SEN TRẮNG vóc tinh vi đảnh Hớn,<BR>Nêu tiết trong soi sáng tài hoa.<BR>Ðể lời nhủ bạn quần thoa,<BR>Kiên trinh liệt nữ phẩm nhà chớ quên.</I></P>
<P =THAN1><FONT color=#ff0000><B>9. Cửu Nương:</B></FONT></P>
<P =THAN1>Cửu Nương cầm bửu pháp Ống tiêu, tiếp đón các chơn hồn lên từng Trời Tạo Hóa Thiên để đưa vào bái kiến Ðức Phật Mẫu, được Phật Mẫu ban cho đào hạnh và rượu Tiên.</P>
<P =THAN1>Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, tỉnh Bạc Liêu, Cửu Nương tên là Cao Thị Khiết (tên giấy tờ là Kiết), con của ông Ðốc Phủ Cao Minh Thạnh và Bà Tào Thị Xúc. Cô là con gái út thứ 9.  Khi giáng cơ cho thi, Cô thường đặt chữ Khiết đứng đầu bài thi:</P>
<P =THI><I>KHIẾT kỷ tu chơn duyên quả định,<BR>Xả thân vị Ðạo đắc Thiên ân.<BR>Lâng lâng giũ sạch bụi trần,<BR>Cứu nhân độ thế phước phần hậu lai.</I></P>
<P =THAN1>Tóm lại, Cửu vị Tiên Nương trông nom về Cơ giáo hóa vạn linh. Tất cả nghề hay nghiệp khéo, về Nữ công hoặc Cầm, Kỳ, Thi, Họa hay Văn chương Triết học đều thuộc phần nhiệm của Cửu vị Tiên Nương giáo hóa và un đúc cho thành tài.</P>
<P =THAN1>Ngày nay thời ÐÐTKPÐ, Cửu vị Tiên Nương đã đắc thành Nữ Phật, nhưng khi cúng Ðức Phật Mẫu tại Báo Ân Từ hay tại Ðiện Thờ Phật Mẫu, chúng ta vẫn niệm: <I>"Nam mô Cửu vị Tiên Nương"</I> là để ghi nhớ công đức của Chín Cô trong thời kỳ khai Ðạo Cao Ðài.</P>
<P =THI><B>TẢ CHÍN VỊ TIÊN NỮ</B></P>
<P =THI><I>Một</I> mày liễu trong ngần đóa ngọc,<BR><I>Hai</I> má đào phải trọng tiết trinh.<BR>Mảnh thân trọn hiếu thâm tình,<BR>Phải hình thục nữ, phải gìn căn duyên.</P>
<P =THI><I>Ba</I> yểu điệu thuyền quyên vóc hạc,<BR><I>Bốn</I> mỹ miều đài các trâm anh.<BR>Khi vui bóng nguyệt rọi mành,<BR>Khi dòng bích thủy, khi cành hoa xuân.</P>
<P =THI><I>Năm</I> phận gái hồng quần đáng mặt,<BR><I>Sáu</I> vẹn toàn quốc sắc Thiên hương.<BR>Vào ra phụng trướng loan đường,<BR>Vào ra ngọc các cẩm tường xem hoa.</P>
<P =THI><I>Bảy</I> trau chuốt thân ngà mặt ngọc,<BR><I>Tám, Chín </I>phần rèn tập nữ nhi.<BR>Chung lo mối Ðạo Tam Kỳ,<BR>Giúp nhà Nam Việt kịp thì Long Hoa.</P>
<P =THI2><B>BÁT NƯƠNG</B><BR>(Ðêm 25-4-Canh Dần, 1950)<BR><I>(Trích trong Luật Tam Thể)</I></P>
<P =THAN1>Ngoài 9 bài thi dùng làm bài thài hiến lễ Cửu vị Tiên Nương trong lễ Hội Yến DTC, Cửu vị Tiên Nương còn giáng cơ cho rất nhiều thi văn dạy đạo. Sau đây, xin trích ra một số bài có đủ 9 vị Tiên Nương giáng cơ.</P>
<P =THAN style="TEXT-ALIGN: center"><B>THI VĂN của CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG<BR></B>____________________</P>
<P =THAN style="TEXT-ALIGN: center"><I>Ngày mùng 8 tháng 8 năm Ất Hợi (dl 5-9-1935)</I></P>
<P align=center><B>CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG</B></P>
<P =THI>HOA tiên đỗ đẹp xinh Văn miếu,<BR>Gót Tiên đưa yểu điệu nữ dung.<BR>Cung Diêu ghé mắt thư hùng,<BR>Reo tơ may gặp hội cùng tương tri.</P>
<P =THI2>NHỨT NƯƠNG</P>
<P =THI>CẨM chức dệt câu thi biệt khách,<BR>Bút Tiên nay vẽ nét tri hoan.<BR>Xe mây lướt dặm trần hoàn,<BR>Dòm theo nỗi khổ đôi hàng lệ sa.</P>
<P =THI2>NHỊ NƯƠNG</P>
<P =THI>TUYẾN kim đưa khách chưa hòa,<BR>Mượn gương bạch thố rọi nhà tri âm.<BR>Ngân kiều cách bức bao năm,<BR>Ướm buông lời ngọc hỏi trần vui chưa?</P>
<P =THI2>TAM NƯƠNG</P>
<P =THI>GẤM Tô Huệ ngày xưa đề thảm,<BR>Nét Tiên hoa sầu đạm vân phong.<BR>Kìa thương những khách má hồng,<BR>Ðẹp xinh tô đậm bụi nồng thế gian.</P>
<P =THI2>TỨ NƯƠNG</P>
<P =THI>LIỄU yếu ớt những lo gió dội,<BR>Có mảnh thân e nỗi khổ thân.<BR>Riêng lo tài sắc hồng quần,<BR>Không nhơ bợn tục, nợ trần lánh chơn.</P>
<P =THI2>NGŨ NƯƠNG</P>
<P =THI>HUỆ trí định Tiên phàm đôi lẽ,<BR>Cửa không môn mới nhẹ tiền duyên.<BR>Phất phơ đưa phướn diệu huyền,<BR>Trông vơi thấy khách cửu tuyền rậm chơn.</P>
<P =THI2>LỤC NƯƠNG</P>
<P =THI>LỄ kỉnh để mấy chương tiết nghĩa,<BR>Vô tự đề cửa tía chứa chan.<BR>Trăm cay là phép tạo nhàn,<BR>Có phong ba mới dựa hàng trượng phu.</P>
<P =THI2>THẤT NƯƠNG</P>
<P =THI>SEN thì ở nơi hồ quán trược,<BR>Công thì hay định phước vinh ba.<BR>Non Thần nhắn bạn đường xa,<BR>Ðường tu khổ hạnh mới là cao siêu.</P>
<P =THI2>BÁT NƯƠNG</P>
<P =THI>KHIẾT tính nết thanh liêm là trọng,<BR>Phép tu thân nhớ lóng là hơn.<BR>Chuông mai dập thức mê hồn,<BR>Cung Tiên mới đặng rửa hờn kiếp sanh.</P>
<P =THI2>CỬU NƯƠNG</P>
<P align=center> </P>
<P align=center><I>Ngày 15-8-Nhâm Ngọ (dl 2-9-1942):</I></P>
<P =THI>NHỨT khí tạo đoan cả địa cầu,<BR>NƯƠNG theo Mẹ Cả giảng vài câu.<BR>KÍNH dâng tam bửu hằng năm vẹn,<BR>TẶNG lễ mừng thầm đắc chẳng lâu.</P>
<P =THI>NHỊ Châu Chơn Võ nhớ cùng không,<BR>NƯƠNG cõi Thiên cung gởi bóng hồng.<BR>KÍNH tặng vài câu mừng bạn cũ,<BR>TẶNG người hiếu hạnh chịu phòng không.</P>
<P =THI>TAM kỳ khai mở Ðạo lần ba,<BR>NƯƠNG náu ít lâu rõ báu hòa.<BR>KÍNH lượng bề trên ban đức tánh,<BR>TẶNG người tài trí hứng Ðài Cao.</P>
<P =THI>TỨ đức vẹn toàn mới xứng danh,<BR>NƯƠNG hơi nhang khói chỉ điều lành.<BR>KÍNH mừng quí vị ân cần tịnh,<BR>TẶNG khách nâu sồng diệt quới khanh.</P>
<P =THI>NGŨ hành vận chuyển đoạt Huyền Thiên,<BR>NƯƠNG níu đôi năm khỏe tự nhiên.<BR>KÍNH có công tu nay gặp hội,<BR>TẶNG người hữu hạnh phục qui nguyên.</P>
<P =THI>LỤC lạc khua ran cả Ngũ châu,<BR>NƯƠNG chi vật chất phải u sầu.<BR>KÍNH xin tỉnh giấc lo tu sớm,<BR>TẶNG quyết cầu ân cổi ách sầu.</P>
<P =THI>THẤT thế náo nương chớ tưởng lâu,<BR>NƯƠNG cùng quí vị chỉ đường cầu.<BR>KÍNH đem đến tận bờ dương liễu,<BR>TẶNG nghĩa đài sơn kẻ chực chầu.</P>
<P =THI>BÁT vu hành khất bữa mơi chiều,<BR>NƯƠNG nưởng mình to giống kẻ thiêu.<BR>KÍNH đến Tây phương tầm Xá lợi,<BR>TẶNG tình đồng Ðạo phải đồng yêu.</P>
<P =THI>CỬU Thiên mở cửa rước người hiền,<BR>NƯƠNG chí dắt dìu khách hữu duyên.<BR>KÍNH lập công to qui cựu vị,<BR>TẶNG tiền phát khởi lập căn nguyên.</P>
<P =THI> </P>
<P align=center><I>Ngày 15-8-Bính Tuất (dl 9-9-1946):</I></P>
<P =THI>Nhẫng ngồi giữ huỳnh hoa Ngạn Uyển,<BR>Mà quên nghe đặng tiếng vĩnh sanh.<BR>Dọn đường lều cỏ chòi tranh,<BR>Tay nương con gậy một mình trông vơi.</P>
<P =THI2>NHỨT NƯƠNG</P>
<P =THI>Trông động cũ màu trời biến sắc,<BR>Trông cung nga thiếu mặt từ quân.<BR>Trông xa đảnh Thánh non Thần,<BR>Trông Ðền Ngọc Khuyết vắng phần Thiên lương.</P>
<P =THI2>NHỊ NƯƠNG</P>
<P =THI>Nay đầm ấm con đường hạnh phúc,<BR>Cõi phong trần gội chút hồng ân.<BR>Tiêu diêu phai lợt mùi trần,<BR>Tỉnh say với giọt nước ngần tẩy mê.</P>
<P =THI2>TAM NƯƠNG</P>
<P =THI>Tưởng tròn phận tô xuê đảnh Việt,<BR>Nương thuyền từ cứu tuyệt trần ai.<BR>Ðường quê nào thấy Thiên Thai,<BR>Công trình lập đặng Vân đài chí công.</P>
<P =THI2>TỨ NƯƠNG</P>
<P =THI>Mở rộng cửa đại đồng vạn chủng,<BR>Khai nẻo sanh cứu sống nhơn gian.<BR>Trị tâm mở mắt song quang,<BR>Khai đường Cực Lạc, mở đàng Lôi Âm.</P>
<P =THI2>NGŨ NƯƠNG</P>
<P =THI>Ðưa gương rạng Quan Âm dẫn thế,<BR>Diệt mê hồn tồi tệ kiếp căn.<BR>Cam lồ rửa sạch phong trần,<BR>Gương xưa để bước đi lần cảnh thăng.</P>
<P =THI2>LỤC NƯƠNG</P>
<P =THI>Nào dè phép quỉ toan cải chánh,<BR>Mượn quyền yêu so sánh Chí Linh.<BR>Ðem thân lữ thứ làm binh,<BR>Cầm gươm huệ chặt tan tành cung thương.</P>
<P =THI2>THẤT NƯƠNG</P>
<P =THI>Hỡi nào kẻ lo lường nghiệp Ðạo,<BR>Hỡi những trang nóng máu anh phong.<BR>Ngôi Thiên để tựa bóng hồng,<BR>Phục hưng gầy nghiệp con Rồng cháu Tiên.</P>
<P =THI2>BÁT NƯƠNG</P>
<P =THI>Gầy sự nghiệp tổ tiên ngày trước,<BR>Dựng miếu đường hưởng phước tự do.<BR>Mảng trông bến cũ đưa đò,<BR>Chơn quân lương tể gây trò vinh phong.</P>
<P =THI2>CỬU NƯƠNG.</P>
<P =THAN1>Xin nhượng bút cho Bát Nương.</P>
<P =THI>Ðào nguyên lại trổ trái hai lần,<BR>Ai ngỡ Việt Thường đã thấy lân.<BR>Cung Ðẩu vít xa gươm xích quỉ,<BR>Thiềm cung mở rộng cửa Hà ngân.</P>
<P =THI>Xuân Thu định vững ngôi lương tể,<BR>Phất Chủ quét tan lũ nịnh thần.<BR>Thổi khí vĩnh sanh lau xã tắc,<BR>Mở đường quốc thể định phong vân.</P>
<P =THI2>BÁT NƯƠNG</P>
<P =THI2> Trích Cao Đài Từ Điển </P>
<P =THI2> Chào hòa kính !</P>
 

hien hoa

New member
<P> Đây em tiếp sưu tầm về thân thế của Thất Nương DTC đây ạ :</P>
<P> <I>Thất Nương là Đấng Nữ Tiên đứng hàng thứ bảy trong Cửu vị Tiên Nương DTC.</I></P>
<P =THAN1>Trong lịch sử cơ bút của Đạo Cao Đài, Thất Nương là vị Nữ Tiên đến với nhóm Xây bàn đầu tiên hơn hết, để dùng thi văn tuyệt bút dẫn dắt quí Ngài Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư và Cao Hoài Sang vào đường đạo đức, với tên tạm mượn là Đoàn Ngọc Quế. </P>
<P>
<TABLE id=Autonumber10 style="BORDER-COLLAPSE: collapse" cellSpacing=0 cellPadding=5 width="85%">
<T>
<TR>
<TD vAlign=top align=right width="25%"><FONT face="Times New Roman" size=3><B>TTCĐDTKM:</B></FONT></TD>
<TD vAlign=top align=left width="75%"><FONT face="Times New Roman" size=3><I>Thất Nương</I> khêu đuốc đạo đầu,<BR>Nhờ người gợi ánh nhiệm mầu huyền vi.</FONT></TD></TR></T></TABLE></P>
<P =THAN1>Thất Nương có nhiều kiếp giáng trần, nhưng hiện nay chỉ biết được 2 kiếp của Thất Nương: Một kiếp ở Trung Hoa và một kiếp ở Việt Nam.</P>
<H3><FONT color=#ff0000><B>I. KIẾP SANH Ở TRUNG HOA.</B></FONT></H3>
<P =THAN1>Thất Nương đầu kiếp trong một gia đình quan Đại Thần đương triều. Cô lớn lên trong sự giàu sang quyền quí, nhưng không giống như các tiểu thư đài các khác, Cô rất hiền hòa độ lượng. Tiếng tốt đồn vang, khiến cho một chàng thư sinh đem lòng ngưỡng mộ thầm yêu.</P>
<P =THAN1>Chàng thư sinh không dám thố lộ cùng ai, vì chàng thuộc gia đình dân giả, còn nàng là tiểu thư khuê các, con quan Đại Thần. Chàng chỉ biết im lặng ôm mối tình si tuyệt vọng.</P>
<P =THAN1>Cô chẳng hề hay biết, vẫn ngây thơ sống trong nhung lụa. Nhưng chẳng may Cô vắn số, mới vừa ở tuổi cập kê là bị bạo bịnh qua đời, dầu gia đình có rước lương y đến nhưng cứu Cô không kịp.</P>
<P =THAN1>Chàng thư sinh hay tin, như sét đánh ngang tai, ôm chặt mối tình tuyệt vọng, ngơ ngẩn như kẻ mất hồn, dần dần thân hình tiều tụy và cũng qua đời.</P>
<P =THAN1>Hồn chàng thư sinh phưởng phất bay về cõi thiêng liêng. Theo luật Thiên điều, dù vô tình hay cố ý, Cô cũng có quan hệ với oan hồn của chàng thư sinh, nên Cô phải tái kiếp một lần nữa để trả cái món nợ oan tình đơn phương đó.</P>
<H3><FONT color=#ff0000><B>II. KIẾP SANH Ở VIỆT NAM.</B></FONT></H3>
<P =THAN1>Hồn chàng thư sinh ấy đầu thai xuống trước, tại Chợ Lớn, trong một gia đình khá giả. Khi lớn lên, chàng được cha mẹ cho ăn học đầy đủ. Chàng rất chuyên cần học tập, nên học rất giỏi. Sau khi thi đậu xong bằng Tú Tài, cha mẹ cho chàng qua Pháp học Đại học Y khoa để sau nầy trở thành một Bác sĩ.</P>
<P =THAN1>Phần Cô Thất Nương, sau đó cũng tái kiếp xuống trần, đầu thai vào gia đình họ Vương ở Chợ Lớn. Cô sanh ngày 8-1-Canh Tý (1900) có tên là Vương Thị Lễ. Thân phụ của Cô là ông Vương Quan Trân làm Đốc Phủ, thân mẫu là bà Đỗ Thị Sang, con gái của quan Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương.</P>
<P =THAN1>Ông Vương Quan Trân là anh ruột của ông Vương Quan Kỳ. Ông Kỳ, sau nầy, được ông Phủ Ngô Văn Chiêu độ, nhập môn vào Đạo Cao Đài, được Đức Chí Tôn phong phẩm Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh. Hai ông Trân và Kỳ là con của ông Vương Quan Để và bà Huỳnh Thị Bảy. Bà Huỳnh Thị Bảy là con gái của ông Huỳnh Mẫn Đạt, còn ông Vương Quan Để là con của quan Thống Chế Vương Quan Hạc.</P>
<P =THAN1>Trước kia, ông bà Vương Quan Trân sanh con rất khó nuôi, nên phải ra tận kinh thành Huế, thỉnh lư hương cầu tự nơi Miếu Bà Cửu Thiên Huyền Nữ về thờ, mới có thai sanh ra Cô Vương Thị Lễ.</P>
<P =THAN1>Lớn lên, Cô Lễ theo học tại trường Trung Tiểu học Pháp Sainte Enfance tới bậc Trung học. Cô Lễ rất được cha mẹ thương yêu chiều chuộng, lại rất hiền hòa hiếu thảo, càng lớn càng đẹp. Đến tuổi cập kê, có nhiều gia đình danh giá đến dạm hỏi, nhưng Cô nhứt định chưa muốn có chồng. Cha mẹ Cô cũng chiều ý con, không hề ép uổng.</P>
<P =THAN1>Bỗng một hôm, Cô lâm bịnh bất ngờ. Người nhà vội rước lương y điều trị, nhưng bịnh tình không thuyên giảm.</P>
<P =THAN1>Hễ cha mẹ Cô nghe nơi nào có thầy hay thuốc giỏi thì liền tìm tới rước về để trị bịnh cho Cô, không kể tốn hao. Nhưng bịnh của Cô cũng không hết. Kịp hay tin có một bác sĩ học rất giỏi từ bên Pháp mới trở về Việt Nam, ông bà Vương Quan Trân tìm biết đó là con trai của một người quen cũ không thân lắm, nhưng thỉnh thoảng cũng có tới lui. Ông Bà đích thân đến chào người quen cũ ấy và hỏi thăm về cậu Bác sĩ, yêu cầu cậu Bác sĩ vui lòng đến xem mạch và trị bịnh cho con gái mình.</P>
<P =THAN1>Nhận thấy cậu Bác sĩ cũng có dáng khôi ngô, ông bà Vương Quan Trân mới nói rằng: Khi Bác sĩ trị bịnh cho con gái tôi hết bịnh rồi thì chúng tôi sẽ gả con gái cho Bác sĩ.</P>
<P =THAN1>Cậu Bác sĩ nghe vậy thì hơi đỏ mặt, vui vẻ nói:</P>
<P =THAN1>- Cháu xin cố gắng hết sức, còn việc kia, thì ba má cháu sẽ bàn tính với hai bác, nếu hai bác thương tình.</P>
<P =THAN1>Nói xong, cậu Bác sĩ xin phép cho người nhà hướng dẫn vào thăm bịnh nhân, nhưng liền đó, người giúp việc hớt hãi chạy ra báo cáo: Bà ơi! Cô làm sao lạ lắm, nghe Cô ực lên một tiếng rồi nằm im luôn, hai mắt nhắm nghiền.</P>
<P =THAN1>Mọi người chạy nhanh đến phòng của Cô. Vị Bác sĩ lật đật xem mạch, thấy mạch còn rất yếu, trong giây phút thì tắt hẳn. Vị Bác sĩ đứng yên lặng ngắm nhìn khuôn mặt xinh đẹp của Cô lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng, để nghe tim mình rung động bàng hoàng, giữa tiếng khóc thảm thiết của Bà Vương Quan Trân và những người thân yêu.</P>
<P =THAN1>Mối oan tình giờ đây đã giải xong, chỉ một lời nói thôi cũng đủ. Ngày Cô mất là ngày 25-10-Mậu Ngọ (dl 28-11-1918) hưởng dương được 19 tuổi.</P>
<P =THAN1>Mộ của Cô Vương Thị Lễ ở trong khuôn viên đất của gia đình Tổng Đốc Phương, thường gọi là Vườn Bà Lớn, ở gần Ngã Bảy Sài Gòn. Năm Mậu Thân 1968, mộ được lấy cốt và thiêu, lấy tro cất vào hủ để thờ. Đất ấy được trưng dụng để xây cất Chung cư Nguyễn Thiện Thuật ở Quận 3 ngày nay.</P>
<P =THAN1>Năm Ất Sửu (1925), thời kỳ mới khởi sự Xây bàn để thông công với cõi vô hình, 4 Ngài: Cao Quỳnh Cư, Cao Quỳnh Diêu, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang, xây bàn đêm mùng 10-6-Ất Sửu (dl 30-7-1925) tại nhà Ngài Cao Hoài Sang gần Chợ Thái Bình Sài Gòn, Cô Vương Thị Lễ giáng bàn, mượn danh Đoàn Ngọc Quế, cho bài thi tự thuật như sau:</P>
<P =THI><B>                     THI:</B><BR><I>Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai?<BR>Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài.<BR>Những ngỡ trao duyên vào ngọc các,<BR>Nào dè phủi nợ xuống tuyền đài.<BR>Dưỡng sinh cam lỗi tình sông núi,<BR>Tơ tóc thôi rồi nghĩa trúc mai.<BR>Dồn dập tương tư oằn một gánh,<BR>Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai?</I></P>
<P =THAN1>Cũng trong năm Ất Sửu (1925), trong một đàn cơ khác, có mặt ông Vương Quan Trân, Cô Vương Thị Lễ giáng bàn, viết một bài thi cho ông Vương Quan Trân là thân sinh của Cô:</P>
<P =THI><B>                     THI:</B><BR><I>Cúi lạy thân sinh thứ lỗi con,<BR>Âm Dương tuy cách, hiếu tâm còn.<BR>Hồn quê níu nắm tình non nuớc,<BR>Phách quế náo nương dạ sắt son.<BR>Ác lặng hiên đoài già nhắc nhỏm,<BR>Nguyệt trầm non Thái trẻ thon von.<BR>Thấy nhau thêm tủi đường ly biệt,<BR>Đá nát xương tan nghĩa vẫn còn.</I></P>
<P =THAN1><B><FONT color=#008000>Ngày 22-11-Đinh Hợi (1947), Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa thuyết đạo tại Đền Thánh về Luật Công Bình Thiêng liêng, nói Ngọc Hư Cung có cho biết rằng:</FONT></B></P>
<P =THAN1>"Vào năm 1929, Cô Thất Nương (Vương Thị Lễ) hay tin thân phụ là Vương Quan Trân qui liễu, bị tội đọa nơi Diêm Cung. Cô Thất Nương lén bỏ Diêu Trì Cung đặng đi xuống Diêm Cung để thức tỉnh cha của Cô.</P>
<P =THAN1>Vì phế phận, nên Ngọc Hư Cung bắt tội Thất Nương, làm cho Diêu Trì Cung náo nhiệt, nhứt là Bát Nương, sợ cho Thất Nương bị tội ấy mà thất vị. Bát Nương mới giáng cơ báo tin cho Đức Phạm Hộ Pháp hay và yêu cầu Đức Hộ Pháp xin với Ngọc Hư Cung ân xá cho Thất Nương.</P>
<P =THAN1>Đức Hộ Pháp liền lập đàn cơ, Thất Nương giáng tỏ bày nỗi niềm hiếu đạo:</P>
<P =THI><B>                     THI:</B><BR><I>Hỏi ai có biết hiếu ra sao?<BR>Chín chữ cù lao giá thế nào?<BR>Hình vóc cảnh Tiên còn dính máu,<BR>Chơn thần nước Phật giữ thai bào.<BR>Nỗi riêng chưa vẹn thân từ phụ,<BR>Nghĩa nặng đeo đai phận má đào.<BR>Thà xuống Âm Cung chia khổ tội,<BR>Cha vầy, ai nỡ ngự đài cao!</I></P>
<P =THAN1>Đức Hộ Pháp đọc bài thi rồi thì xúc động từ tâm, nghĩ vì luật pháp quá nghiêm khắc, e rằng nơi mặt thế nầy không ai tránh khỏi tội. Cô Thất Nương vì chữ hiếu mà phải bị phạt, thế thì Luật Công Bình có lẽ còn có chỗ khuyết điểm chăng?</P>
<P =THAN1>Đức Hộ Pháp quyết định dâng sớ lên Đức Chí Tôn xin tội cho Thất Nương.</P>
<P =THAN1>Đức Chí Tôn nhận được tờ sớ, liền giao cho Đức Lý Thái Bạch và nói rằng: <I>"Con coi, Tắc nó trách Thầy, ắt nó chưa hiểu rõ Luật Công Bình Thiên Điều thế nào, con cũng nên đến giải cho nó đặng hiểu."</I></P>
<P =THAN1>Vâng lịnh Đức Chí Tôn, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ nói cho Đức Hộ Pháp hiểu rõ và cho bài thi về Luật Công Bình Thiêng liêng:</P>
<P =THI><B>                     THI:</B><BR><I>Phải giữ chơn linh đặng trọn lành,<BR>Ngọc Hư toàn ngự Đấng tinh anh.<BR>Luật điều Cổ Phật không chừa tội,<BR>Hình phạt Chí Tôn chẳng vị tình.<BR>Chánh trực kinh oai loài giả dối,<BR>Công bình vừa sức kẻ chơn thành.<BR>Mũi kim chẳng lọt xưa nay hẳn,<BR>Biết sợ xin khuyên cẩn thận mình.</I><BR><B>                         LÝ GIÁO TÔNG "</B></P>
<P =THAN1><B><FONT color=#008000>Trong bài Thuyết đạo của Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng tại Đền Thánh vào thời Tý ngày 15-12-Đinh Hợi (1947), có một đoạn Ngài Cao Tiếp Đạo nói về cái khổ của Thất Nương vì chữ Hiếu, trích ra như sau:</FONT></B></P>
<P =THAN1>"Cái khổ đó chưa ai tránh được, dầu cho bực Thần Thánh có thân hình cũng phải vào cảnh khổ đó. Chính Thất Nương cũng vì khổ đó, cho nên mới có để lời than, sau khi đã lãnh lịnh xuống cõi Âm quang độ con cái của Chí Tôn đang bị giam hãm nơi đó, lựa chỗ cho đầu thai. Thật là một ân huệ vô cùng vô tận của Đức Chí Tôn để độ tận con cái của Người vậy.</P>
<P =THAN1>Thất Nương vì hiếu, khi hay tin cha mẹ mắc tội nơi Phong Đô, liền bỏ Cung Diêu Trì, xuống đó độ rỗi nên bị Thiên đình bắt tội.</P>
<P =THAN1>Đã hai kiếp sanh khổ vì tình vì hiếu, nên sau khi Thất Nương được đặc ân của Ngọc Hư Cung xá tội, liền tình nguyện đến cõi Âm Quang độ rỗi các chơn hồn thất thệ, đặng trả nghĩa cho Thầy.</P>
<P =THAN1>Trước khi đi, trong một kỳ đàn, Thất Nương có đến từ giã và để lời than với Đức Hộ Pháp và một vài Chức sắc HTĐ.</P>
<P =THAN1>Bài thơ ấy, tôi xin nhắc lại:</P>
<P =THI><B>                     THI:</B><BR><I>Hai kiếp đeo đai lắm nợ trần,<BR>Cái thân vì khổ bận cho thân.<BR>Niềm duyên đổ ngọc lan phòng nguyệt,<BR>Nỗi hiếu rơi châu tưới mộ phần.<BR>Giữ Đạo mong chờ ngày độc tịch,<BR>Bán mình quyết cứu độ song thân.<BR>Nước non càng ngắm càng thêm chạnh,<BR>Chạnh thảm khi mang mảnh xác trần.<BR></I><B>                                               Thất Nương</B></P>
<P =THAN1>Bần tăng tả cảnh khổ trên đây để các bạn nhập tâm ghi nhớ.</P>
<P =THAN1>Thất Nương là một vị Nữ Phật thứ 7 trong hàng Cửu vị Nữ Phật mà còn không tránh khỏi khổ. Đó là bài học của tâm hồn trí não, nếu tránh được khổ thì trên con đường lập vị, chúng ta rất may duyên sẽ gặp đặng Đức Chí Tôn mà hằng ngày Người hằng trông ngóng."</P>
<P =THAN1>Trong số Cửu vị Tiên Nương Diêu Trì Cung (hay Cửu vị Nữ Phật), chỉ có Bát Nương và Thất Nương là thường giáng cơ dạy Đạo và cho thi văn nhiều nhất, kế đó là Lục Nương. Còn các vị Nữ Tiên khác thì ít khi giáng cơ.</P>
<P =THAN1>  Và đây tiếp theo là thân thế của Cửu Nương DTC đây ạ :</P>
<P =THAN1> Cửu Nương là vị Nữ Tiên thứ 9 trong Cửu vị Tiên Nương DTC, dưới quyền của Ðức Phật Mẫu. </P>
<P =THAN1>Trong một kiếp giáng sanh xuống trần gần đây nhứt, ở tại nước Việt Nam, Cửu Nương có tên là Cao Thị Kiết (tên thường gọi là KHIẾT), sanh ngày 16 tháng Giêng năm Bính Thân (1895) tại Thị xã Bạc Liêu, con của Ông Ðốc Phủ Sứ Cao Minh Thạnh, và Bà Tào Thị Xúc.</P>
<P =THAN1>Cửu Nương có người anh ruột là Cao Triều Phát, đứng đầu chi phái Minh Chơn Ðạo ở Bạc Liêu.</P>
<P =THAN1>Cô Cao Thị Kiết được gia đình hứa hôn gả cho Ông Nguyễn Bá Tính, con thứ của Ông Ðốc Phủ Sứ Nguyễn Bá Phước thời đó, đám hỏi xong nhưng chưa đám cưới thì Cô bị bệnh và mất. Ngày mất là ngày 27 tháng 6 năm Canh Thân (1920), hưởng dương được 25 tuổi.</P>
<P =THAN1>Mộ của Cô được làm toàn bằng đá xanh kiên cố và hùng vĩ, tọa lạc giữa đồng ruộng, cách Châu thành Bạc Liêu khoảng hai cây số, về hưởng Vĩnh Châu.</P>
<P =THAN1>Nơi cổng vào mộ có liễn chữ nho, bia trước và sau mộ đều viết bằng chữ nho. Trên mộ có 9 hàng chữ Pháp khắc sâu vào đá, chép ra như sau:</P>
<P =THAN1>"Ici repose - Madame - CAO THỊ KIẾT - née le 16 1er mois - Année Bính Thân - 1895 - décédée le 27 6è mois - Année Canh Thân - (1920)"</P>
<P =THAN1> Nguồn Cao Đài Từ Điển </P>
<P =THAN1> Hòa ái !</P>
 

Facebook Comment

Top