<P><FONT size=3>Hì hì hì.(cười bí hiểm đấy ). Đệ biết Tỷ Xí muội "XỎ" đệ chứ gì nhưng không sao ! Hãy xam đệ trổ tài copy neeeee è. HQ biết trong đạo chúng ta đa số là ăn chay. cho nên HQ sẽ nói toàn là chuyện ăn chay vậy. Nếu tỷ Xí Muội hổng thích ăn đậu Hà Lan - bánh mì đen thì những món dưới đây hổng biết có thích hông??nào quý A C E welcome:</FONT></P>
<P align=center><FONT face=Arial><FONT size=5><U><EM><strong>NGũ CốC Và KHOAI Củ</strong></EM></U></FONT></P>
<P><FONT size=3>I. NGũ CốC</FONT></FONT><FONT face=Arial></P>
<P><FONT size=3>Ngũ cốc là nguồn chính cung cấp nǎng lượng cho khẩu phần ǎn hàng ngày của nhân dân ta, đồng thời ngũ cốc cũng là nguồn protein thực vật và vitamin Bl của khẩu phần. </FONT></P><B>
<P><FONT size=3>1 Gạo.</FONT></B><FONT size=3> Gạo là lương thực chính trong bữa ǎn hàng ngày của nhân dân ta. Giá trị dinh dưỡng của hạt gạo phụ thuộc vào đất đai, khí hậu, xay xát, bảo quản và chế biến. </FONT></P><B>
<P><FONT size=3>Gluxit.</FONT></B><FONT size=3> Thành phần dinh dưỡng chính của hạt gạo là gluxit chiếm 70-80% tập trung ở<FONT face=Arial> </FONT>lõi gạo. </FONT></P>
<P><FONT size=3><B>Protein.</B> Protein gạo thấp hơn mì và ngô (7-7,5%) </FONT></P>
<P></FONT><FONT size=3><FONT face=Arial><B>Chất khoáng.</B> Gạo có ít Ca, nhiều </FONT><FONT face=Arial>P </FONT></FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>nên gạo là thức ǎn gây toan.</FONT></P><B>
<P><FONT size=3>Vitamin. </FONT></B><FONT size=3>Gạo là nguồn Vitamin nhóm B, lượng B1 đủ cho chuyển hóa gluxit trong gạo. Tuy nhiên, hàm lượng Bi còn phụ thuộc vào độ xay xát vì B1 nằm nhiều ở<FONT face=Arial> </FONT>cùi alơron. Nếu xay xát kỹ thì B1 sẽ mất nhiều theo cám. </FONT></P></FONT><FONT face=Arial>
<P><FONT size=3>ở<I> </I></FONT></FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>hạt gạo nguyên có:</FONT></P>
<P><FONT size=3>Vitamin B1: 0,38mg% Niaxin: 4,1mg%</FONT></P>
<P><FONT size=3>Vitamin B2: 0,1 mg% Biotin: 0,004 mg%</FONT></P>
<P><FONT size=3>Vitamin B6: 1,0 mg% Axit Pantotinic:1,7 mg%</FONT></P>
<P><FONT size=3>Hạt gạo xay trǎng lượng vitamin còn như sau:</FONT></P>
<P><FONT size=3>Vitamin B1: 0,08mg% Niaxin: 1,9mg%</FONT></P>
<P><FONT size=3>Vitamin B2: 0,04 mg% Biotin: 0,004 mg%</FONT></P>
<P><FONT size=3>Vitamin B6: 0,30 mg% Axit Pantotinic:0,66 mg%</FONT></P>
<P><FONT size=3>Vấn đề xay xát bảo quản và chế biến gạo: Các thành phần dinh dưỡng như protein, lipit và vitamin nhóm </FONT></FONT><FONT size=3><FONT face=Arial>B </FONT><FONT face=Arial>tập trung phần lớn ở</FONT><FONT face=Arial> </FONT></FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>mầm và cùi vì vậy cần chú ý:</FONT></P>
<P><FONT size=3> - Chế biến không vo gạo kỹ quá, nấu cơm cho vừa đủ nước, nếu cho quá nhiều nước rồi chắt nước cơm sẽ làm mất nhiều chất dinh dưỡng. </FONT></P>
<P><FONT size=3>- Bảo quản gạo nơi cao ráo, thoáng mát, tránh ánh sáng trực tiếp, có thiết bị chống ẩm mốc, sâu mọt làm hỏng gạo. Nói chung không nên giừ gạo quá 3<I> </I>tháng. cũng nên đa dạng, <strong>ǎn thêm những thức ǎn giầu vitamin B1 như thịt nạc, đậu đỗ và giá đậu xanh.</strong></FONT></P>
<P><strong><FONT size=3> 2. Ngô. </FONT></strong></P>
<P><FONT size=3>Protein: Ngô có từ 8,5-10% protein, . Nếu ǎn phối hợp ngô với đậu đỗ và các thức ǎn động vật thì giá trị protein ngô sẽ tǎng lên nhiều. </FONT></P>
<P><FONT size=3>Lipit: Lipit trong hạt ngô toàn phần từ 4-5%, phần lớn tập trung ở</FONT></FONT><FONT face=Arial size=3> </FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>mầm.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Trong chất béo của ngô có 50% là axit linoleic, 31% là axit oleic, 13% là axit panmitic và 3% là Stearic. </FONT></P>
<P><FONT size=3>Gluxit: Gluxit trong ngô khoảng 60% chủ yếu là tinh bột. ở</FONT></FONT><FONT face=Arial size=3> </FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>hạt ngô non có thêm một số đường đơn và đường kép.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Chất khoáng: Ngô nghèo canxì, giầu photpho. Giống như gạo, ngô cũng là thức ǎn gây toan. <I>.</I></FONT></P>
<P><FONT size=3>Vitamin: Vitamin của ngô tập trung ở lớp ngoài hạt ngô và ở</FONT></FONT><FONT size=3><FONT face=Arial> </FONT><FONT face=Arial>mầm. Ngô cũng có nhiều vitamin B1. Vitamin </FONT><FONT face=Arial>PP </FONT></FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>hơi thấp cộng với thiếu tryptophan một axit min có thể tạo vitamin PP. Vì vậy nếu ǎn ngô đơn thuần và kéo dài sẽ mắc bệnh Pellagre. Riêng ngô vàng có chứa nhiều caroten (tiền vitamin A). </FONT></P><B>
<P></B></FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>II. KHOAI Củ </FONT></P>
<P><FONT size=3>ở<I> </I></FONT></FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>nông thôn nước ta sau ngũ cốc thì khoai củ cũng là thức ǎn thường dùng. Đặc điểm chung của khoai củ là nghèo các chất dinh dưỡng và nǎng lượng thấp. </FONT></P><B>
<P><FONT size=3>1 Khoai lang.</FONT></B></P>
<P><FONT size=3>Protein. Protein khoai lang thấp (khoai tươi 0.8%, khoai khô 2,2%), giá trị sinh học của protein khoai lang so với khoai tây và gạo thì kém hơn, nhưng so với ngô, sắn thì tốt hơn. <I>.</I></FONT><B></P>
<P><FONT size=3>Lipit.</FONT></B><FONT size=3> Lipit trong khoai lang rất thấp chỉ có 0,2% </FONT></P><B>
<P><FONT size=3>Gluxit.</FONT></B><FONT size=3> Gluxit 28,5%. 100 gam khoai tươi cho 122 Kcalo.</FONT></P><B>
<P><FONT size=3>Vitamin:</FONT></B><FONT size=3> Khoai lang có nhiều vitamin </FONT></FONT><FONT face=Arial size=3>C </FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>và nhóm B. Riêng khoai nghệ có nhiều caroten.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Chất khoáng: Canxi và photpho đều thấp, tỉ lệ CA/P tương đối hợp lý ( 34/49 ). Khoai lang khó bảo quản, không giữ được lâu. Muốn giữ lâu người ta đem thái lát mỏng và phơi khô .</FONT></P>
<P><B><FONT size=3>3. Khoai tây.</FONT></B></P>
<P><FONT size=3>So với khoai lang thì khoai tây có nhiều protein hơn (2%). Protein khoai tây có nhiều lysin nên phối hợp tốt với ngũ cốc. Giá trị sinh học của protein khoai tây tương đối cao, lên tới 75%. </FONT></P>
<P><FONT size=3><B>Vitamin.</B> Vitamin </FONT></FONT><FONT size=3><FONT face=Arial>C </FONT><FONT face=Arial>trong khoai tây tương đối cao (lo mg%), vitamin nhóm </FONT><FONT face=Arial>B </FONT><FONT face=Arial>cao hơn so với khoai lang, gần giống ở</FONT><FONT face=Arial> </FONT><FONT face=Arial>gạo. Trong khoai tây, nhất là khoai tây mọc mầm và lớp vỏ ngoài có chứa độc chất solanin. Lúc khoai mọc mầm là thời kỳ chứa nhiều solanin nhất ( 50-100mg% ) vì vậy thường gặp ngộ độc solanin do ǎn khoai tây mọc mầm. Biện pháp đề phòng tốt nhất là không ǎn khoai tây khi đã mọc mầm.</P></FONT></FONT><B><FONT face=Arial size=5>
<P align=center><U><EM>ĐậU Đỗ Và hạT Có DầU</EM></U></P></FONT><FONT face=Arial>
<P><FONT size=3>1 Đậu đỗ:</FONT></B><FONT size=3> Hạt đậu đỗ khô nói chung cung cấp nǎng lượng ngang với ngũ cốc Lượng protein cao từ 17-25%, riêng đậu tương 34%, cao gấp 2 lần so với ngũ cốc. Chất béo 1-3%, riêng đỗ tương 18%. Đậu đỗ là nguồn khá tốt về vitamin nhóm B, PP, Canxi và Fe. Hầu như không có vitamin </FONT></FONT><FONT face=Arial size=3>C </FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>và caroten. Giá trị sinh học protein đậu đỗ thấp ( 40-50 ) riêng đậu tương 75, thấp hơn so với thức ǎn động vật nhưng cao hơn ngũ cốc. Đậu đỗ nói chung nghèo các axit min chứa lưu huỳnh như metionin, xystin, nhưng có nhiều lysin nên phối hợp tốt với ngũ cốc.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Một số chế phẩm của đậu đỗ thường dùng:</FONT></P>
<P><FONT size=3>- Giá đậu xanh: nghèo nǎng lượng nhưng có nhiều vitamin nhóm </FONT></FONT><FONT face=Arial size=3>B </FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>nhất là B1 và có nhiều vitamin C.</FONT></P>
<P><FONT size=3>- Sữa đậu nành: Giá trị dinh dưỡng còn phụ thuộc vào tỉ lệ đậu nành nhiều hay ít. Nói chung sữa đậu nành có nhiều protein, lipit. </FONT></FONT><FONT face=Arial size=3>ở </FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>nước ta sữa đậu nành hoặc sữa chua chế biến từ đậu nành làm thức ǎn thay thế sữa bò , dành cho trẻ em và người bệnh rất tốt vì dễ hấp thu.</FONT></P>
<P><FONT size=3>- Đậu phụ: cũng là thức ǎn thường dùng. Trong quá trình sản xuất đậu phụ, protein đậu tương đã được thủy phân thành dạng dễ hấp thu. Protein đậu phụ khoảng 10-12% và lipit 5-6%. Theo lời khuyên ǎn uống hợp lý của Viện dinh dưỡng Quốc gia thì hàng tháng mỗi người nên ǎn từ 2-3 kg đậu phụ.</FONT></P>
<P></FONT><FONT size=3><FONT face=Arial><B>2. Hạt có dầu</B>. </FONT><FONT face=Arial>ở </FONT></FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>nước ta, hạt có dầu được dùng nhiều là hạt lạc, vừng. Ngoài lượng protein và hpit cao, hạt vừng còn có nhiều chất khoáng chủ yếu là sắt và vitamin chủ yếu là vitamin PP.</FONT></P>
<P><FONT size=3>2.1. Lạc.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Lạc có lượng protein 27,5% nhưng giá trị sinh học (BV) kém vì thiếu nhiều axit amin cần thiết. So với ngũ cốc, protein lạc kém gạo nhưng tốt hơn ngô. Trên thực tế nếu ǎn phối hợp lạc với ngũ cốc thì giá trị sinh học của protein phối hợp sẽ tốt lên nhiều vì ngũ cốc nghèo lysin và lạc nghèo metionin. Lạc phối hợp rất tốt với ngô vì lạc có nhiều Vitamin </FONT></FONT><FONT face=Arial size=3>PP </FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>và tryptophan là 2 yếu tố hạn chế của ngô. Lạc muốn giữ được lâu cần phơi khô, giữ nguyên vỏ, điều kiện bảo quản phải kín, khô, tránh ánh sáng trực tiếp. Nếu bảo quản không tốt, lạc có thể bị ẩm và mốc. Một số mốc có thể phát triển trong lạc và sinh độc tố nếu có điều kiện độ ẩm và nhiệt độ thích hợp (độ ẩm 85% và nhiệt độ 30oC). Nếu lạc bị nhiễm mốc Asperillus navus thì mốc này có tạo độc tố Aflatoxin.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Dầu lạc: 80% là axit béo chưa no (oleic và linoleic) và 10% là axit béo no (palmitic) ngoài ra là những axit béo khác.</FONT></P>
<P><FONT size=3>2.2. Vừng.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Vừng cũng là một loại thức ǎn có giá trị. Vừng có khoảng 20% protein và 46,4% lipit. Protein của vừng nghèo lysin nhưng giàu metionin. Nếu xét về thành phần axitamin thì vừng <I>+ </I>đậu tương <I>+ </I>ngũ cốc sẽ làm cho giá trị sinh học của nó tǎng lên đáng kể.</FONT></P><B>
<P><FONT size=3>Vitamin.</FONT></B><FONT size=3> Vừng có nhiều vitamin nhóm B.</FONT></P><B>
<P><FONT size=3>Khoáng.</FONT></B><FONT size=3> Vừng có nhiều canxi (1200mg%) ngang với sữa, nhưng giá trị hấp thu kém vì vừng có nhiều axit oxalic cản trở nhiều khả nǎng hấp thu canxi của cơ thể.</FONT></FONT><FONT face=Arial><B></P>
<P align=center><FONT size=5><U><EM>RAU QUả</EM></U></FONT></P></B></FONT><FONT face=Arial>
<P><FONT size=3>Rau quả có vai trò đặc biệt trong dinh dưỡng, cung cấp cho cơ thể nhiều chất có hoạt tính sinh học, đặc biệt là các chất khoáng kiềm, vitamin, pectin và axit hữu cơ. Ngoài ra trong rau quả còn có các loại đường tan trong nước tinh bột và xenluloza.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Một đặc tính sinh lý quan trọng là rau quả gây cho ta cảm giác thèm ǎn và kích thích tiết dịch tiêu hóa. Rau phối hợp với các thức ǎn nhiều protein, lipit và gluxit sẽ làm tǎng kích thích tiết dịch vị ở</FONT></FONT><FONT face=Arial size=3> </FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>chế độ ǎn rau kết hợp protein, lượng dịch vị tiết tǎng 2 lần so với ǎn protein đơn thuần. Bữa ǎn có rau tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiêu hóa hấp thu các chất dinh dưỡng khác. </FONT></P>
<P><FONT size=3>Trong rau còn có các men, men trong củ hành giống pepxin của dịch vị. </FONT></P>
<P><FONT size=3>Men trong bắp cải giống trypxin của tuyến tụy.</FONT></P><B>
<P><FONT size=3>1 . Rau.</FONT></B></P>
<P><FONT size=3>Lượng nước cao 70-95% vì vậy rau rất khó bảo quản, nhất là về mùa hè rau dễ bị hỏng. Protein trong rau thấp 0,5-1,5% nhưng có lượng lyzin và metionin cao, phối hợp tốt với ngũ cốc. Gluxit thấp 3-4% bao gồm đường đơn, đường kép, đường tinh bột, xenluloza và pectin. Xenluloza của rau thuộc loại mịn dễ chuyển sang dạng hòa tan ở trong ruột. Trong rau, xenluloza ở</FONT></FONT><FONT face=Arial size=3> </FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>dưới dạng hên kết với các chất pectin tạo thành phức hợp pectin-xenluloza kích thích mạnh nhu động ruột và tiết dịch ruột.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Nhiều tài liệu cho rằng xenluloza của rau có khả nǎng đào thải cholesterol ra khỏi cơ thể. Lượng xenluloza trong rau khoảng 0,3-3,5% tùy loại rau. Rau là nguồn vitamin </FONT></FONT><FONT face=Arial size=3>C </FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>và caroten cho khẩu phần ǎn hàng ngày.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Các loại rau có nhiều vitamin </FONT></FONT><FONT size=3><FONT face=Arial>C </FONT><FONT face=Arial>như rau ngót (185mgo/o), rau mùi (140mg%), mùng tơi ( 72mg%), cải sen (51mg%), cải bắp ( 30mg%), rau muống (23mg%). Tuy vậy trong quá trình chế biến bảo quản, lượng vitamịn </FONT><FONT face=Arial>C </FONT><FONT face=Arial>bị giảm đi khá nhiều. Mức giảm trung bình là 50%. Caroten có nhiều ở</FONT><FONT face=Arial> </FONT></FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>một số rau quả có mầu như ớt vàng, cà chua, cà rốt, rau mùi, hành lá.<I>.. </I>Rau là nguồn các chất khoáng kiềm như K, Ca, Mg. Ngoài ra rau cũng là nguồn cung cấp chất sắt dễ hấp thu.</FONT></P><B>
<P><FONT size=3>2. Quả. </FONT></B></P>
<P><FONT size=3>Về thành phần dinh dường so với rau, quả có nhiều gluxit hơn và phần lớn dưới dạng đường đơn, đường kép như fructoza, glucoza, sacaroza. Quả cũng là nguồn cung cấp vitamin </FONT></FONT><FONT size=3><FONT face=Arial>C </FONT><FONT face=Arial>như rau nhưng ưu việt hơn ở</FONT><FONT face=Arial> </FONT></FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>chỗ trong quả không có men ascorbinaza phân giải vitamin C, đồng thời ǎn quả tươi không qua chế biến nên lượng vitamin được giữ gần như nguyên vẹn. Một số loại quả có nhiều caroten như đu đủ, gấc, cam, chanh... </FONT></P>
<P><FONT size=3>Quả cũng là nguồn các chất khoáng kiềm, chủ yếu là Ka li. Lượng canxi và photpho ít nhưng tỉ lệ CA/P tốt. Quả còn có ưu thế hơn rau ở</FONT></FONT><FONT size=3><FONT face=Arial> </FONT><FONT face=Arial>chỗ, quả còn chứa 1 số axit hữu cơ, pectin, tanin. Liên kết axit hữu cơ với tanin có tác dụng kích thích tiết dịch vị mạnh. ph ở</FONT><FONT face=Arial> </FONT></FONT><FONT face=Arial><FONT size=3>quả vào khoảng 2,5-5,2 và ở rau từ 5,3-5,9. Cam chanh có nhiều axit xitric, các quả khác có axit malic, xitric, tactric, benzoic...</FONT></P><B>
<P><FONT size=3>3. Tính chất vệ sinh của rau quả.</FONT></B></P>
<P><FONT size=3>Rau có thể nhiễm các vi khuẩn gây bệnh và trứng giun sán do tưới rau bằng phân tươi hoặc nước bẩn. Các loại rau ǎn tưới sống như rau sà lách, rau thơm, hành mùi, dưa chuột, cà rốt... nếu không được rửa sạch và sát trùng cẩn thận thì có thể gáy các bệnh đường ruột và giun sán. </FONT></P>
<P><FONT size=3>Một vấn đề hiện nay đang được quan tâm là độ nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật trong rau quả khá cao, gây nên ngộ độc cấp tính cũng như mãn tính, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe lâu dài cho người tiêu dùng.</FONT></P>
<P><FONT size=3>Tóm lại giá trị dinh dưỡng của thức ǎn động vật và thực vật như chúng ta đã thấy không có một loại thức ǎn nào cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết. Bởi vậy cần phải biết phối hợp ǎn nhiều loại thức ǎn trong bữa ǎn hàng ngày. Đảm bảo cho khẩu phần ǎn hàng ngày có đủ các loại thức ǎn ở</FONT></FONT><FONT size=3><FONT face=Arial> </FONT><FONT face=Arial>các nhóm thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng theo lứa tuổi, giới tính cũng như cường độ lao động.</FONT></FONT></P>