nguoihocDao
New member
Kính gởi quý huynh tỷ đệ muội,
<br />
<br />Tệ muội xin gởi đến quý huynh tỷ đệ muội một phần trong cuốn Hồi Ký Của Đạo Trưởng Thanh Long - Lương Vĩnh Thuật về cơ đạo miền Trung.
<br />
<br />
<br /> <center><strong><font size="3">Hồi Ký Của Đạo Trưởng Thanh Long - Lương Vĩnh Thuật</strong></font>
<br /> </center>
<br />
<br /><font color=Red><strong><font size="3">10/. PHỔ TRUYỀN CHƠN ĐẠO TRUNG KỲ ::</font></strong></font>
<br /><font color=blue><font size="2">
<br /> Cần biết qua hoàn cảnh Trung Kỳ thời ấy. Từ người Pháp đô hộ Việt Nam họ chia ra nước ra thành 3 xứ : Nam Kỳ, Trung kỳ, Bắc Kỳ và đặt chế độ khác nhau để dễ bề cai trị. Nam Kỳ xứ thuộc địa theo luật lệ nước Pháp, Bắc Kỳ bán thuộc địa, Trung Kỳ xứ Bảo Hộ do chính phủ Nam Triều (Huế) trực tiếp cai trị Pháp chỉ Bảo Hộ. Nhưng thực sự do Pháp điều khiển, nên chế độ cai trị cả hai gọng kềm nhiều khó khăn hà khắc.
<br /> Hơn nữa Trung Kỳ là xứ liên tục những cuộc vùng dậy chống Pháp, nên bất cứ tổ chức Giáo Hội có vẻ mới là bị cấm ngay; Riêng đối với nền đạo mới Cao Đài đương ảnh hưởng sôi nổi tại miền Nam, thì tại Trung Bắc Kỳ chính quyền tìm mọi cách ngăn chặn nên có Đạo Dụ số 10 của Bảo Đại có đoạn “Nhất thiết Cao Đài thư tịch bất đắc truyền bá Trung Kỳ” nghĩa là tất cả kinh sách Cao Đài không được truyền bá ở Trung Kỳ.
<br /> Vì vậy từ năm 1928-1930 cơ Đạo phát triển mạnh ở miền Nam các vị Hướng Đạo có thanh thế ở đời như cụ Huyện Thơ, cụ Phủ Vương Quang Kỳ đã ra Trung truyền đạo bất thành, sau cùng Giáo Sư Thái Gấm Thanh một Chức Sắc Tòa Thánh đầy nhiệt tình ra Trung, đến Quảng Nam cũng bị bắt cởi áo đạo ra trả về Sài Gòn nên cơ Đạo Trung Kỳ thật là khó? Lúc bấy giờ chỉ có người gốc niềm Trung vào Nam làm ăn hoặc buôn bán nhập Đạo rồi về phổ độ lén lút cho họ hàng. Như vậy rải rác các tỉnh nào cũng có như trường hợp gia đình bà Mục Cưu nói trên. Nay chính thức ra Trung truyền Đạo thật vấn đề đầy khó khăn.
<br />Lúc ấy cuối tháng 6 năm Giáp Tuất 1934 tôi xin phép các anh để xin Thiêng Liêng xếp đặt về Quảng kịp ngày rằm tháng 7 dự lễ mãn tang cúng Đại Tường thân sinh tôi và nhân dịp về thăm thân mẫu tôi đã gần một năm bà mong đợi.
<br /> Đêm mồng 1-7 tại Thánh Tịnh Đại Thanh có đàn cơ Đức Lý giáo Tông cho phép tôi về Trung, đặc biệt hôm ấy Ngài truyền lấy một cốc tịnh thủy Ngài tặng cho tôi gọi là thưởng công ở miền Nam. Tôi lễ tạ nhận lãnh nhưng vẫn suy nghĩ tôi đã làm gì đáng gọi là có công và tại sao ở miền Nam? Tám tháng trời qua từ chúng tôi thọ mạng Đồng Loan chỉ lo tập luyện và hành sự trong phạm vi bé nhỏ, sứ mạng “Phổ truyền Chơn Đạo” được giao phó chưa thấy Thiêng Liêng chỉ dạy thế nào và phổ truyền ở đâu?
<br /> Tôi về Quảng lần này thân mẫu tôi rất mừng, lễ Đại Tường thân sinh xong tôi dự định hết tháng bảy hoặc đầu tháng tám ta tôi phải vào lại Sài Gòn để tiếp tục hành sự vì dự định xin về một tháng, nhưng thân mẫu tôi bảo viết thơ nhờ qúi anh xin phép ở lại nhà với bà một thời gian vài tháng sẽ vào.
<br /> Bất ngờ cuối tháng 7 được thơ qúi anh gởi ra báo tin đêm 25-7 đàn cơ tại Thánh Tịnh Đại Thanh có lệnh Thiêng Liêng dạy đồng tử Tứ Linh chuẩn bị thi hành sứ mạng Phổ Truyền Chơn Đạo khai giáo Trung Kỳ, bảo tôi nên hoản việc vào Nam để chờ có lịnh dạy thế nào rồi sẽ vào .
<br /> Được tin lành tôi vô cùng phấn khởi, được thi hành sứ mạng được gần gũi mẹ già điều mà bà hết sức mong ước. Nhưng sau phút vui mừng đó tôi cảm thấy bàng hoàng lo âu cho sứ mạng khai giáo Trung Kỳ. Vì trước đây một năm bởi sự khó khăn nghiêm cấm Cao Đài, vì hâm mộ Đạo gia đình bà Mục Cưu đã bán hết sự sản dắt nhau vào Nam tìm đường tu học, nay lại trở về Trung truyền đạo mới làm sao đây? Rồi tôi lại nghĩ sứ mạng lần này do Thiêng Liêng truyền dạy, ta tuân hành ý Trời thì có ngại chi những khó khăn bởi người.
<br /> Nỗi mừng vui đương trong thời gian chờ đợi, bổng ngày 6 tháng 8 hung tin điện về cho bà Mục Cưu :“Lê văn Liêm, Lê văn Bặc vì bệnh đã cùng từ trần ngày mùng 3-8 Giáp Tuất”. Thật là kinh ngạc tin đau buồn thống thiết chẳng riêng cho gia đình bà Mục Cưu mà chính tôi cũng vô cùng đau xót? Anh Lê văn Liêm mất ai dìu dắt Đồng Tử Tứ Linh, ai là người phò tá chúng tôi trong sứ mạng Phổ Truyền Chơn Đạo? Thượng Đế đã trao cho chúng tôi trọng trách sao không để lại cho chúng tôi Lê văn Liêm?
<br /> Lập tức hôm ấy anh Hương Bồn (Lê văn Cưu) vào Sài Gòn thì tang lễ hai anh Lê văn Liêm, Lê văn Bặc (em kế anh Hương Bồn) đã an táng xong cả rồi chỉ được biết đầu đuôi, nguyên do hai anh bị cảm xoàng không đáng kể, bất ngờ lúc 12 giờ đêm mồng 2 rạng mồng 3 một cơn sốt đặc biệt nổi lên một giờ sau anh Lê văn Liêm mất, cũng trong tình trạng đó 12 giờ trưa ngày mồng 3-8 Giáp Tuất anh Lê văn Bặc mất, như vậy chỉ trong thời gian 12 tiếng đồng hồ hai anh em vĩnh biệt trần gian.
<br /> Tang lễ hai anh cử hành trọng thể tại Thánh Tịnh Đại Thanh nơi hai anh cũng là những người sáng lập, được toàn đạo vô cùng cảm kích nhất là giờ điếu tang Anh Lớn Lê Kim Tỵ nức nở khóc kể, ca ngợi tinh thần vì Đạo chí hy sinh của hai anh. Thương tiếc hai anh những thanh niên tuấn tú hứa hẹn tuơng lai của đất nước của Đạo Trời, nhất là anh Lê văn Liêm một thanh niên có nhiều trọng trách, một thủy thủ tài ba góp tay chèo chống Đạo vượt qua vạn dặm trùnng dương.</font>
<br /></font> (còn tiếp ...)
<br />
<br />Tệ muội xin gởi đến quý huynh tỷ đệ muội một phần trong cuốn Hồi Ký Của Đạo Trưởng Thanh Long - Lương Vĩnh Thuật về cơ đạo miền Trung.
<br />
<br />
<br /> <center><strong><font size="3">Hồi Ký Của Đạo Trưởng Thanh Long - Lương Vĩnh Thuật</strong></font>
<br /> </center>
<br />
<br /><font color=Red><strong><font size="3">10/. PHỔ TRUYỀN CHƠN ĐẠO TRUNG KỲ ::</font></strong></font>
<br /><font color=blue><font size="2">
<br /> Cần biết qua hoàn cảnh Trung Kỳ thời ấy. Từ người Pháp đô hộ Việt Nam họ chia ra nước ra thành 3 xứ : Nam Kỳ, Trung kỳ, Bắc Kỳ và đặt chế độ khác nhau để dễ bề cai trị. Nam Kỳ xứ thuộc địa theo luật lệ nước Pháp, Bắc Kỳ bán thuộc địa, Trung Kỳ xứ Bảo Hộ do chính phủ Nam Triều (Huế) trực tiếp cai trị Pháp chỉ Bảo Hộ. Nhưng thực sự do Pháp điều khiển, nên chế độ cai trị cả hai gọng kềm nhiều khó khăn hà khắc.
<br /> Hơn nữa Trung Kỳ là xứ liên tục những cuộc vùng dậy chống Pháp, nên bất cứ tổ chức Giáo Hội có vẻ mới là bị cấm ngay; Riêng đối với nền đạo mới Cao Đài đương ảnh hưởng sôi nổi tại miền Nam, thì tại Trung Bắc Kỳ chính quyền tìm mọi cách ngăn chặn nên có Đạo Dụ số 10 của Bảo Đại có đoạn “Nhất thiết Cao Đài thư tịch bất đắc truyền bá Trung Kỳ” nghĩa là tất cả kinh sách Cao Đài không được truyền bá ở Trung Kỳ.
<br /> Vì vậy từ năm 1928-1930 cơ Đạo phát triển mạnh ở miền Nam các vị Hướng Đạo có thanh thế ở đời như cụ Huyện Thơ, cụ Phủ Vương Quang Kỳ đã ra Trung truyền đạo bất thành, sau cùng Giáo Sư Thái Gấm Thanh một Chức Sắc Tòa Thánh đầy nhiệt tình ra Trung, đến Quảng Nam cũng bị bắt cởi áo đạo ra trả về Sài Gòn nên cơ Đạo Trung Kỳ thật là khó? Lúc bấy giờ chỉ có người gốc niềm Trung vào Nam làm ăn hoặc buôn bán nhập Đạo rồi về phổ độ lén lút cho họ hàng. Như vậy rải rác các tỉnh nào cũng có như trường hợp gia đình bà Mục Cưu nói trên. Nay chính thức ra Trung truyền Đạo thật vấn đề đầy khó khăn.
<br />Lúc ấy cuối tháng 6 năm Giáp Tuất 1934 tôi xin phép các anh để xin Thiêng Liêng xếp đặt về Quảng kịp ngày rằm tháng 7 dự lễ mãn tang cúng Đại Tường thân sinh tôi và nhân dịp về thăm thân mẫu tôi đã gần một năm bà mong đợi.
<br /> Đêm mồng 1-7 tại Thánh Tịnh Đại Thanh có đàn cơ Đức Lý giáo Tông cho phép tôi về Trung, đặc biệt hôm ấy Ngài truyền lấy một cốc tịnh thủy Ngài tặng cho tôi gọi là thưởng công ở miền Nam. Tôi lễ tạ nhận lãnh nhưng vẫn suy nghĩ tôi đã làm gì đáng gọi là có công và tại sao ở miền Nam? Tám tháng trời qua từ chúng tôi thọ mạng Đồng Loan chỉ lo tập luyện và hành sự trong phạm vi bé nhỏ, sứ mạng “Phổ truyền Chơn Đạo” được giao phó chưa thấy Thiêng Liêng chỉ dạy thế nào và phổ truyền ở đâu?
<br /> Tôi về Quảng lần này thân mẫu tôi rất mừng, lễ Đại Tường thân sinh xong tôi dự định hết tháng bảy hoặc đầu tháng tám ta tôi phải vào lại Sài Gòn để tiếp tục hành sự vì dự định xin về một tháng, nhưng thân mẫu tôi bảo viết thơ nhờ qúi anh xin phép ở lại nhà với bà một thời gian vài tháng sẽ vào.
<br /> Bất ngờ cuối tháng 7 được thơ qúi anh gởi ra báo tin đêm 25-7 đàn cơ tại Thánh Tịnh Đại Thanh có lệnh Thiêng Liêng dạy đồng tử Tứ Linh chuẩn bị thi hành sứ mạng Phổ Truyền Chơn Đạo khai giáo Trung Kỳ, bảo tôi nên hoản việc vào Nam để chờ có lịnh dạy thế nào rồi sẽ vào .
<br /> Được tin lành tôi vô cùng phấn khởi, được thi hành sứ mạng được gần gũi mẹ già điều mà bà hết sức mong ước. Nhưng sau phút vui mừng đó tôi cảm thấy bàng hoàng lo âu cho sứ mạng khai giáo Trung Kỳ. Vì trước đây một năm bởi sự khó khăn nghiêm cấm Cao Đài, vì hâm mộ Đạo gia đình bà Mục Cưu đã bán hết sự sản dắt nhau vào Nam tìm đường tu học, nay lại trở về Trung truyền đạo mới làm sao đây? Rồi tôi lại nghĩ sứ mạng lần này do Thiêng Liêng truyền dạy, ta tuân hành ý Trời thì có ngại chi những khó khăn bởi người.
<br /> Nỗi mừng vui đương trong thời gian chờ đợi, bổng ngày 6 tháng 8 hung tin điện về cho bà Mục Cưu :“Lê văn Liêm, Lê văn Bặc vì bệnh đã cùng từ trần ngày mùng 3-8 Giáp Tuất”. Thật là kinh ngạc tin đau buồn thống thiết chẳng riêng cho gia đình bà Mục Cưu mà chính tôi cũng vô cùng đau xót? Anh Lê văn Liêm mất ai dìu dắt Đồng Tử Tứ Linh, ai là người phò tá chúng tôi trong sứ mạng Phổ Truyền Chơn Đạo? Thượng Đế đã trao cho chúng tôi trọng trách sao không để lại cho chúng tôi Lê văn Liêm?
<br /> Lập tức hôm ấy anh Hương Bồn (Lê văn Cưu) vào Sài Gòn thì tang lễ hai anh Lê văn Liêm, Lê văn Bặc (em kế anh Hương Bồn) đã an táng xong cả rồi chỉ được biết đầu đuôi, nguyên do hai anh bị cảm xoàng không đáng kể, bất ngờ lúc 12 giờ đêm mồng 2 rạng mồng 3 một cơn sốt đặc biệt nổi lên một giờ sau anh Lê văn Liêm mất, cũng trong tình trạng đó 12 giờ trưa ngày mồng 3-8 Giáp Tuất anh Lê văn Bặc mất, như vậy chỉ trong thời gian 12 tiếng đồng hồ hai anh em vĩnh biệt trần gian.
<br /> Tang lễ hai anh cử hành trọng thể tại Thánh Tịnh Đại Thanh nơi hai anh cũng là những người sáng lập, được toàn đạo vô cùng cảm kích nhất là giờ điếu tang Anh Lớn Lê Kim Tỵ nức nở khóc kể, ca ngợi tinh thần vì Đạo chí hy sinh của hai anh. Thương tiếc hai anh những thanh niên tuấn tú hứa hẹn tuơng lai của đất nước của Đạo Trời, nhất là anh Lê văn Liêm một thanh niên có nhiều trọng trách, một thủy thủ tài ba góp tay chèo chống Đạo vượt qua vạn dặm trùnng dương.</font>
<br /></font> (còn tiếp ...)