L/s Truyền Đạo Miền Trung - Hồi Ký

nguoihocDao

New member
Kính gởi quý huynh tỷ đệ muội,
<br />
<br />Tệ muội xin gởi đến quý huynh tỷ đệ muội một phần trong cuốn Hồi Ký Của Đạo Trưởng Thanh Long - Lương Vĩnh Thuật về cơ đạo miền Trung.
<br />
<br />
<br />                           <center><strong><font size="3">Hồi Ký Của Đạo Trưởng Thanh Long - Lương Vĩnh Thuật</strong></font>
<br /> </center>
<br />
<br /><font color=Red><strong><font size="3">10/. PHỔ TRUYỀN CHƠN ĐẠO TRUNG KỲ ::</font></strong></font>
<br /><font color=blue><font size="2">
<br />        Cần biết qua hoàn cảnh Trung Kỳ thời ấy. Từ người Pháp đô hộ Việt Nam họ chia ra nước ra thành 3 xứ : Nam Kỳ, Trung kỳ, Bắc Kỳ và đặt chế độ khác nhau để dễ bề cai trị. Nam Kỳ xứ thuộc địa theo luật lệ nước Pháp, Bắc Kỳ bán thuộc địa, Trung Kỳ xứ Bảo Hộ do chính phủ Nam Triều (Huế) trực tiếp cai trị Pháp chỉ Bảo Hộ. Nhưng thực sự do Pháp điều khiển, nên chế độ cai trị cả hai gọng kềm nhiều khó khăn hà khắc.
<br />        Hơn nữa Trung Kỳ là xứ liên tục những cuộc vùng dậy chống Pháp, nên bất cứ tổ chức Giáo Hội có vẻ mới là bị cấm ngay; Riêng đối với nền đạo mới Cao Đài đương ảnh hưởng sôi nổi tại miền Nam, thì tại Trung Bắc Kỳ chính quyền tìm mọi cách ngăn chặn nên có Đạo Dụ số 10 của Bảo Đại có đoạn “Nhất thiết Cao Đài thư tịch bất đắc truyền bá Trung Kỳ” nghĩa là tất cả kinh sách Cao Đài không được truyền bá ở Trung Kỳ.
<br />        Vì vậy từ năm 1928-1930 cơ Đạo phát triển mạnh ở miền Nam các vị Hướng Đạo có thanh thế ở đời như cụ Huyện Thơ, cụ Phủ Vương Quang Kỳ đã ra Trung truyền đạo bất thành, sau cùng Giáo Sư Thái Gấm Thanh một Chức Sắc Tòa Thánh đầy nhiệt tình ra Trung, đến Quảng Nam cũng bị bắt cởi áo đạo ra trả về Sài Gòn nên cơ Đạo Trung Kỳ thật là khó? Lúc bấy giờ chỉ có người gốc niềm Trung vào Nam làm ăn hoặc buôn bán nhập Đạo rồi về phổ độ lén lút cho họ hàng. Như vậy rải rác các tỉnh nào cũng có như trường hợp gia đình bà Mục Cưu nói trên. Nay chính thức ra Trung truyền Đạo thật vấn đề đầy khó khăn.
<br />Lúc ấy cuối tháng 6 năm Giáp Tuất 1934 tôi xin phép các anh để xin Thiêng Liêng xếp đặt về Quảng kịp ngày rằm tháng 7 dự lễ mãn tang cúng Đại Tường thân sinh tôi và nhân dịp về thăm thân mẫu tôi đã gần một năm bà mong đợi.
<br />        Đêm mồng 1-7 tại Thánh Tịnh Đại Thanh có đàn cơ Đức Lý giáo Tông cho phép tôi về Trung, đặc biệt hôm ấy Ngài truyền lấy một cốc tịnh thủy Ngài tặng cho tôi gọi là thưởng công ở miền Nam. Tôi lễ tạ nhận lãnh nhưng vẫn suy nghĩ tôi đã làm gì đáng gọi là có công và tại sao ở miền Nam? Tám tháng trời qua từ chúng tôi thọ mạng Đồng Loan chỉ lo tập luyện và hành sự trong phạm vi bé nhỏ, sứ mạng “Phổ truyền Chơn Đạo” được giao phó chưa thấy Thiêng Liêng chỉ dạy thế nào và phổ truyền ở đâu?
<br />        Tôi về Quảng lần này thân mẫu tôi rất mừng, lễ Đại Tường thân sinh xong tôi dự định hết tháng bảy hoặc đầu tháng tám ta tôi phải vào lại Sài Gòn để tiếp tục hành sự vì dự định xin về một tháng, nhưng thân mẫu tôi bảo viết thơ nhờ qúi anh xin phép ở lại nhà với bà một thời gian vài tháng sẽ vào.
<br />        Bất ngờ cuối tháng 7 được thơ qúi anh gởi ra báo tin đêm 25-7 đàn cơ tại Thánh Tịnh Đại Thanh có lệnh Thiêng Liêng dạy đồng tử Tứ Linh chuẩn bị thi hành sứ mạng Phổ Truyền Chơn Đạo khai giáo Trung Kỳ, bảo tôi nên hoản việc vào Nam để chờ có lịnh dạy thế nào rồi sẽ vào .
<br />        Được tin lành tôi vô cùng phấn khởi, được thi hành sứ mạng được gần gũi mẹ già điều mà bà hết sức mong ước. Nhưng sau phút vui mừng đó tôi cảm thấy bàng hoàng lo âu cho sứ mạng khai giáo Trung Kỳ. Vì trước đây một năm bởi sự khó khăn nghiêm cấm Cao Đài, vì hâm mộ Đạo gia đình bà Mục Cưu đã bán hết sự sản dắt nhau vào Nam tìm đường tu học, nay lại trở về Trung truyền đạo mới làm sao đây? Rồi tôi lại nghĩ sứ mạng lần này do Thiêng Liêng truyền dạy, ta tuân hành ý Trời thì có ngại chi những khó khăn bởi người.
<br />        Nỗi mừng vui đương trong thời gian chờ đợi, bổng ngày 6 tháng 8 hung tin điện về cho bà Mục Cưu :“Lê văn Liêm, Lê văn Bặc vì bệnh đã cùng từ trần ngày mùng 3-8 Giáp Tuất”. Thật là kinh ngạc tin đau buồn thống thiết chẳng riêng cho gia đình bà Mục Cưu mà chính tôi cũng vô cùng đau xót? Anh Lê văn Liêm mất ai dìu dắt Đồng Tử Tứ Linh, ai là người phò tá chúng tôi trong sứ mạng Phổ Truyền Chơn Đạo? Thượng Đế đã trao cho chúng tôi trọng trách sao không để lại cho chúng tôi Lê văn Liêm?
<br />        Lập tức hôm ấy anh Hương Bồn (Lê văn Cưu) vào Sài Gòn thì tang lễ hai anh Lê văn Liêm, Lê văn Bặc (em kế anh Hương Bồn) đã an táng xong cả rồi chỉ được biết đầu đuôi, nguyên do hai anh bị cảm xoàng không đáng kể, bất ngờ lúc 12 giờ đêm mồng 2 rạng mồng 3 một cơn sốt đặc biệt nổi lên một giờ sau anh Lê văn Liêm mất, cũng trong tình trạng đó 12 giờ trưa ngày mồng 3-8 Giáp Tuất anh Lê văn Bặc mất, như vậy chỉ trong thời gian 12 tiếng đồng hồ hai anh em vĩnh biệt trần gian.
<br />        Tang lễ hai anh cử hành trọng thể tại Thánh Tịnh Đại Thanh nơi hai anh cũng là những người sáng lập, được toàn đạo vô cùng cảm kích nhất là giờ điếu tang Anh Lớn Lê Kim Tỵ nức nở khóc kể, ca ngợi tinh thần vì Đạo chí hy sinh của hai anh. Thương tiếc hai anh những thanh niên tuấn tú hứa hẹn tuơng lai của đất nước của Đạo Trời, nhất là anh Lê văn Liêm một thanh niên có nhiều trọng trách, một thủy thủ tài ba góp tay chèo chống Đạo vượt qua vạn dặm trùnng dương.</font>
<br /></font> (còn tiếp ...)
 

nguoihocDao

New member
       <font color=BLUE> <font size="2">Tang lễ xong đêm 14-8 Giáp Tuất tại Huỳnh Long Phủ (tư thất Anh Lớn Lê Kim Tỵ) có đàn cơ. Đức Lý Giáo Tông truyền phong cho anh Lê văn Liêm Thiên Vị “Lục My Chơn Thánh” ; Anh Lê văn Bặc được phong Thần. Hai anh có nhiệm vụ hộ trì cho Đồng Tử Tứ Linh trong sứ mạnh phổ truyền Chơn Đạo như sở nguyện lúc sinh thời. Đó cũng là niềm an ủi cho gia đình bà Mục Cưu một gia đình nhiệt thành vì đạo và cũng vơi bớt nỗi buồn thương của nhóm anh em Quảng Nam, đã qui tụ nhau chung sống dưới túp nhà Đại Thanh hiện đang tái thiết dỡ dang !
<br />        Cũng nên nhắc lại Thánh Tịnh Đại Thanh một trong 72 Thánh Tịnh của Phái Đạo Tiên Thiên thành lập từ tháng 11 năm Quí Dậu chỉ tạm bằng sườn cây lợp lá, vách lá, anh Lê văn Liêm, Lê văn Bặc một trong những ngưới sáng lập. Nay anh em thấy cơ đạo ngày một phát triển nên tái thiết lại quy mô, tường lợp ngói để đủ giao tiếp bổn đạo Miền Trung và Tam Giang.
<br />        Tiếp đến đêm 24-8 Giáp Tuất 1934 tại Thánh Tịnh Đại Thanh có đàn cơ, Đức Lý Giáo Tông đến nói trước về sứ mạng Phổ Truyền Chơn Đạo Trung Bắc Kỳ, tiếp đến Đức Cao Đài Thượng Đế giáng dạy và chính thức trao truyền Sứ Mạng Truyền Đạo Trung Kỳ cho anh Trần công Bang và Đồng Tử Tứ Linh. Đàn cơ hôm ấy do Phò Loan Qui Lân chấp cơ xin chép nguyên bản còn sót lại :
<br />     
<br />                          <center>Đại Thanh Thánh Tịnh đàn giờ Tý 24-8 Giáp Tuất 1934
<br />THI :.</center>
<br />
<br />                                     Bạch nhựt thanh thiên hiển hiện thân.
<br />                                     Hạc nghinh Thánh Chỉ giáng Lâm trần.
<br />                      Đồng loan tá thủ khai Tiên bút.
<br />                                     Tử mạng đàn trung trật tự phân.
<br />      Khá tiếp nghinh long giá Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế ngự đàn nghe chư Hướng Đạo :
<br /><center>THI</center> :
<br />                                     Ngọc chỉ ban ra dạ ngen ngùng.
<br />                                     Hoàng cầu thế giới vẫn trời chung.
<br />                                     Thượng cờ qui phất Minh Chơn Đạo.
<br />                                     Đế mạng chừ ai gánh vác cùng.
<br />     “ Thầy mừng các con. Thầy rất vui cho đàn hôm nay các con chí thành mà bàn đến Thiên Cơ, Thầy rất lo cho các con xoay tròn ngày qua tháng qua rồi lại mất, cơ âm dương phát động cuộc Thế Giới đao binh, trước từ đông phương đến tây phương, các sắc dân các chủng tộc phải chịu cảnh tiêu diệt máu chảy thành sông xương chồng tợ núi. Than ôi! Chính mình Thầy đến khua chuông cảnh tỉnh đánh trống giác mê, gây thuyền Bát nhã phất cờ qui nguyên, lấy đức nhẫn nại tình thương làm hướng đạo để qui tụ các con đem về một mối. Cái mối mà Thầy dắt cho các con đây chính là mối chung thiên hạ, không phân Nam Bắc chẳng luận Đông Tây, bắt tay nhau đi đến thế giới hòa bình “nhơn nhi vô nhơn, ngã nhi vô ngã” Còn cuộc quả báo lịch kiếp giảm tăng là lý đương nhiên của nhân loại.
<br />Than ôi! Thế mà tại nước Việt Nam này chưa lập thành Chánh Đạo, thì Thánh địa chưa hoàn toàn nên mong gì Vạn Quốc Thiên Bang “Nội bất tề hà nhi an ngoại”. Các con tập theo gương các người thương đời mến đạo mà quyết tâm, dù có khó khăn chi đi nữa cũng quyết hy sinh lãnh lấy vai tuồng, dù tướng dù kép phận sự tuy có khác nhau mà thành công vẫn có một.
<br />Ngày nay một phận sự quan hệ là Truyền Đạo Trung Kỳ. Bang, Thầy sai con và Tứ Linh Đồng Tử khá kịp về Trung đặng hoát khai Chơn Đạo. Con Tính sao ? (Anh Trần công Bang bạch: không dám trái mạng nhưng vì không đủ sức).
<br />Vẫn biết Trung là khó, các con phải chịu khó hơn ai hết, mà không sao con, chi chi cũng có Thầy. Nếu Thầy sai một con nào có tên tuổi e không khỏi điều tắc trở, vậy con chớ chối từ.”
<br /><center>THI</center>
<br />                            Khó nhọc chi chi cũng vẹn lòng.
<br />                            Thầy giao phận sự khá làm xong.
<br />                            Đường trường ví có xa nghìn dặm.
<br />                            Thuận gió buồm trương cũng dễ hòng.
<br />THI BÀI
<br />                                    Tên nêu lên bảng đại đồng,
<br />                       Khó khăn nào nện mặn nồng quản chi.
<br />                             Con tuân mạng Trung Kỳ Khai Đạo.
<br />                             <strong>Thầy</strong> đến đây chỉ giáo thiên cơ.
<br />                                     Giờ nay lặng lẽ như tờ,
<br />                       điễn quang đưa đến thần cơ chuyển truyền.
<br />                             Trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới.
<br />                             Từ Đông Phương cho tới Tây Phương.
<br />                                     Chiến tranh xung đột gây trường,
<br />                        Tây phương tán huyết Bình Dương lưu hài.
<br />                             Thảm thiết nổi đắng cay nhiều nổi.
<br />                             Đau đớn thay bực bội lắm thay.
<br />                                     Trách con ác nghiệp gây hoài,
<br />                          Thành oan biển nghiệp biết ngày nào vơi.
<br />                             Cuộc bể dâu nay dời mai đổi.
<br />                             Mãnh thân sinh bảy nổi ba chìm.
<br />                                     Xoay vần trên cỏi phù diêm,
<br />                          Thạnh suy mấy lúc cổ kim mất lần.
<br />                             Buồn lòng đến hồng trần kêu nhắc.
<br />                             Đưa tay ra dìu dắt các con.
<br />                                     Lời êm ái tiếng ngọt ngon,
<br />                          Giác mê trống đánh tĩnh hồn chuông ngân.
<br />
<br />                             Hỡi than ôi! Dân dân nước nước.
<br />                             Hỡi than ôi! Tước tước quyền quyền.
<br />                                     Nổi động địa nổi kinh thiên,
<br />                          Nhân sinh ra đổi Thần Tiên giáng trần.
<br />
<br />                             Chính mình Thầy hóa thân Tam Giới.
<br />                             Mở Đạo Trời qui tụ Đông Tây.
<br />                                     Bắc Nam vẫn cũng một Thầy,
<br />                          Qui nguyên vạn phái hiệp vầy thiền tông.
<br />                             Cuộc hòa bình chung trong thế giới.
<br />                             Cơ qui nguyên gốc bởi Cao Đài.
<br />                                     Tuyên truyền chừ biết cậy ai?
<br />                          Còn trong đất Việt chưa ngoài vạn bang.
<br />                             <strong>Thầy</strong> đã lắm lúc than lúc thở.
<br />                             Con dạ nào mà nỡ mà đành.
<br />                                     Hiệp nhau cả em cả anh,
<br />                          Trung Kỳ con kíp khởi hành mau mau!
<br />
<br />                             Nghe thầy dặn trước sau nông nổi.
<br />                             Để con ra mở mối Đạo Trời.
<br />                                   Quyết tâm vì đạo vì đời,
<br />                          Mãnh thân đạp đất đội Trời quản bao.
<br />                             Bước lên đường đừng nao đừng núng.
<br />                             Thuyền ra khơi ráng chống ráng chèo.
<br />                                   Đứa nắm lái đứa giữ lèo,
<br />                          Tuỳ theo ngọn nước bỏ chèo bương bương.
<br />                             <strong>Giáp</strong> nơi nơi phô trương quảng đại.
<br />                             <strong>Ất</strong> con còn mắc phải tai nàn.
<br />                                    <strong>Thanh Từ </strong> trổ mặt <strong>Quang Quang</strong>.
<br />                          <strong>Hiệp Thiên</strong> sớt gánh chia đàng Bắc Trung.
<br />                             Thử ngoảnh mặt cắn chừng cây thử.
<br />                                 <strong>Ngưu</strong> dương mầy lên ngứ sao <strong>Ngưu</strong>.
<br />                                     Bại rồi hiệp liệt rồi ưu,
<br />                          <strong>Cạp</strong> cười đạo đức trào lưu dẫy đầy.
<br />                             Trung từ đây đắp xây chánh đạo.
<br />                             Nam xuống lên kế hảo đoàn viên.
<br />                                     Kẻ thống nhất người qui nguyên,
<br />                          Cơ quan sắp sửa tuyên truyền Vạn Linh.
<br />                             Trong cái bước hành trình gay trở.
<br />                             Kiếm ra Thầy tớ cũng phân vân.
<br />                                     Trăm năm gẫm có mấy lần,
<br />                          Cái phần khó nhọc là phần thưởng công.
<br />                             Chờ một lúc cho <strong>Rồng</strong> trổ mặt.
<br />                             Hiệp sức nhau dìu dắt nhau ra.
<br />                                     Tan cũng hiệp, nghịch cũng hòa,
<br />                        Tây lân có bạn, đông gia có Thầy.
<br />
<br />                             <strong>Bang</strong> nặng gánh đôi vai triều triệu.
<br />                             Khó nổi trung, nổi hiếu, nổi tình.
<br />                                        Đường đê chân bước gập ghình,
<br />                        Dầm mưa chải gió thân mình quản chi.
<br />                             Thầy dặn con những khi vắng vẻ.
<br />                             Con đề phòng những kẻ như con.
<br />                                        Nhẹ lòng lấp bể dời non,
<br />                        Sao mà cho đáng là con của Thầy!
<br />
<br />                             <strong>Giang</strong> đã biết nơi này là khổ.
<br />                             Quyết đem mình đến chỗ vô sanh.
<br />                                        Dốc lòng cùng bạn cùng anh,
<br />                        Làm trai nghĩa vụ hy sanh phải là.
<br />                             Thầy đã nói đạo là phương thuốc.
<br />                             Con phải nhìn thời cuộc đa mang.
<br />                                     Bệnh nhân gặp phải danh lang,
<br />                        Còn vương lấy bệnh tại chàng muốn vương.
<br />
<br />                             <strong>Thanh Long</strong> con đường trường giục ngựa.
<br />                             Mãnh thân sinh đứng giữa trần gian.
<br />                                    Vui chi cười, buồn chi than,
<br />                        Hễ càng cay đắng, con càng nên con.
<br />                             Tranh Thiên Cổ nét son tô điểm.
<br />                             Hội Vạn Linh thử kiếm anh tài.
<br />                                     Nhấm biết đắng, nếm biết cay,
<br />                        Phả i người vì đạo, hiếm tay thương đời!
<br />
<br />                             <strong>Bạch Phụng</strong> con mạng Trời phụng lãnh.
<br />                             Gánh nhơn sanh là gánh chung cùng.
<br />                                     Vì ai, ai đợi, ai trông?
<br />                        Cây ngô dấu phụng đã không thấy rồi.
<br />
<br />                             <strong>Kim Qui</strong> con thì thôi nhân sự.
<br />                             Cuộc tuần hoàn hỏi thử sao đây?
<br />                                     Bương theo cho kịp gót Thầy,
<br />                        Cam lai khổ tận hiếm ngày đó con.
<br />
<br />                             <strong>Xích Lân</strong> nhớ lo tròn phận sự.
<br />                             Cùng anh em vẹn giữ thuỷ chung.
<br />                                     Phong sương tùng mới phải tùng,
<br />                        Đườ ng xa vững chí ngại ngùng chi con.
<br />
<br />                             <strong>Châu</strong> độc giả lo tròn độc giả.
<br />                             Phận sự con Thầy đã định phòng.
<br />                                     Bao giờ <strong>Hổ</strong> hội cùng <strong>Long</strong>,
<br />                        Bên ngoài sắp đặt bên trong an bài.
<br />
<br />                             Này các con thân trai nặng nợ.
<br />                             Chí tang bồng mựa chớ đơn sai.
<br />                                     Tuần hoàn con ác xoay xoay,
<br />                        Non sông rồi cũng có ngày lạc quan.
<br />                             Đưa nhân loại lên đường thoát khổ.
<br />                             Dắt đồng bào đến chỗ tự do.
<br />                                     Nước Trời cơm đất ấm no,
<br />                       Thiê n bang vạn quốc diễn trò Thuấn Nghiêu.</font></font>
<br />(còn tiếp ...)
 

nguoihocDao

New member
Kính thưa quý huynh tỷ đệ muội,
<br />
<br /> Sau khi đọc bài Thánh giáo bên trên của Thầy và lịch sử Cao Đài tại khu vực Quảng Nam sau ngày truyền đạo về miền trung, kết nối các sự kiện thì chúng ta cảm nhận được lời Tiên tri Thiêng Liêng này.
<br />
<br />
 

nguoihocDao

New member
       <font color=BLUE>Theo lời Bạch Phụng Đồng Tử kể lại ( vì thời gian đó tôi ở Quảng) hầu đàn hôm ấy có đông đủ anh em, các anh Cao Hữu Chí, Lâm Hồng Hầu, Kiều Văn Thê, Lê Văn Khương v.v… đã có anh em miền Trung rất là vui mừng hào hứng, đua nhau nắm chặt tay quí anh Trần Công Bang, và Đồng Tử Tứ Linh mừng mừng, chúc chúc định thảo ra một chương trình tiến hành, nhưng còn chờ trình qua ý kiến anh Lớn Lê Kim Tỵ.
<br />       
<br />       Ngày sau anh Trần Công Bang đến gặp anh Lớn Lê Kim Tỵ, thì đã có Thánh Lịnh chuyển anh Lớn Lê Kim Tỵ đêm mồng 1 tháng 9 Giáp Tuất đến Thánh Tịnh Đại Thanh để nghe dạy về sứ mạng Trung Kỳ. Đàn cơ đêm mồng 1 tháng 9 do Đồng Tử Bảo Pháp Liên Hương ( tiếc rằng các thánh giáo này nầy về sau thất lạc), hôm ấy chính Đức Cao Đài Thượng Đế giáng dạy anh lớn Lê Kim Tỵ, đại ý thời kỳ khai giáo Bắc Trung Phổ Truyền Chơn Đạo đã đến, kịp thực hiện lời tiền định: “ Nam Bắc xong rồi ra Ngoại Quốc…”; mà muốn truyền đạo Bắc Kỳ lấn lên phía Bắc, thì phải xây dựng vững chắc cơ đạo Trung Kỳ.
<br />
<br />       Trước kia Đức Cao Đài đã giao cho anh lớn Lê Kim Tỵ có trách nhiệm tinh thần đớ đầu cho Đồng Tử Tứ Linh, nay Thầy dời anh đến nhắc anh trong trách nhiệm ấy thành sứ mạng hộ trì cơ đạo Trung Kỳ, giao anh tổ chức đôn đốc cho đoàn Sứ Giả truyền đạo Trung Kỳ lên đường kịp ngày Rằm tháng 9 năm Giáp Tuất 1934. Anh lớn Lê Kim Tỵ bạch: tuân mạng, và xin Thầy định rõ nhiệm vụ. Đức Cao Đài trả lời: “ Thầy giao cho Trần Công Bang nhiệm vụ Pháp Đàn hướng dẫn Đồng Tử Tứ Linh, Thân Đức Giang, nhiệm vụ Điển ký Trần Quang Châu, tạm thời độc giả sau sẽ trọng dụng. Trong Đoàn không thấy đề cập đến anh lớn Lê Kim Tỵ, anh lo ngại bạch Thầy:
<br />       “Con biết xứ Trung Kỳ dưới hai chế độ cai trị rất là khắc khe, nền đạo mới Tam Kỳ lại bị nghiêm cấm, con rất lo ngại các em con sẽ không hoàn thành được sứ mạng nhận lãnh trước Thầy! Theo ý phàm con xin Thầy từ bi giao phó trọng trách cho một vị Hướng Đạo có tên tuổi có uy thế xã hội, có chí hy sinh để dẫn dắt các em con mong làm tròn sứ mạng trọng đại Thầy giao phó. Nếu không có vị nào nhận lãnh con xin phép Thầy cho con ra Trung Kỳ lần này”.
<br />
<br />       Đức Cao Đài trả lời đại ý : “Thầy rất ngợi khen con vì đạo vì nhân sinh, điều con ưu tư rất đúng. Nhưng con ôi trước kia Trương Hữu Đức nguyện mở đạo Trung Kỳ Thầy thuận cho nhưng đã làm được đâu? Đến Vương Quang Kỳ, Nguyễn Ngọc Thơ xin ra Trung cũng bất thành. Nếu bảo là danh vọng uy thế ở đời này thì các con ấy đã thành công rồi? Nay thầy quyết định giao sứ mạng truyền đạo Trung Kỳ ấy cho các em con là sứ mạng của những kẻ vô danh. Con hiểu ý Thầy chưa? Dầu vậy các con phải hết lòng hộ trì chúng nó mới được, con phải ở miền Nam lo cơ Đạo Tiên Thiên, đến lúc nào cần Thầy sẽ chuyển con, hãy tuân ý Thầy”
<br />
<br />       Không kêu nài được nữa Anh Lớn Lê Kim Tỵ vừa khóc vừa bạch : “con xin tuân mạng Thầy, con nguyện hết lòng vì thầy vì đạo, con sẽ loan báo cho toàn Đạo Tiên Thiên biết ý Thầy cùng lo cho các em con, xin Thầy truyền cho chư Thần phò hộ Đoàn Sứ Giả làm tròn nhiệm vụ khó khăn này”.
<br />
<br />       Đàn cơ hôm ấy nhất là lúc Anh Lớn Lê KimTỵ vừa khóc vừa năn nĩ xin được đi Trung Kỳ làm cho cả anh em hầu đàn đều cảm xúc. Khi mản đàn đọc lại Thánh Giáo anh kể lại cho anh em nghe những khó khăn ở Trung Kỳ. Từ năm 1929 cụ Trương Hữu Đức muốn lãnh phần ra Trung truyền đạo nhưng rồi không đi đuợc vì không có phép. Đến các cụ Huyện Thơ (Nguyễn Ngọc Thơ) có bà con quen thuộc với dòng họ nhà Vua (hoàng tộc) quan lại triều đình Huế nên định cắm cờ Đạo ở Kinh Đô cũng bất thành. Đến cụ phủ Vương Quan Kỳ cũng ra Trung đến Bình Định thì gặp quan lại NamTriều (chỗ quen biết) một hai khuyên cụ trở về Sài Gòn và cho bết việc nghiêm cấm Đạo Cao Đài ở Trung Bắc kỳ.
<br />       Vì vậy anh lớn rất lo âu nên nài nỉ xin Thầy ra Trung, nhưng anh đã hiểu được ý Thầy anh tin rằng sứ mạng lần này các em sẽ thành công, anh sẽ hết lòng cầu nguyện hết lòng hộ trì và căn dặn anh Trần công Bang thường liên lạc về Nam để có gì xảy ra kịp thời tìm cách can thiệp.
<br />
<br />       Hôm ấy đủ mặt các anh em lại thêm có Anh Lớn Lê Kim Tỵ , anh em mới đưa ra ý kiến xin lo chu tất lộ phí cho đoàn sứ giả truyền đạo Trung Ky và tặng cho đoàn sứ giả mỗi người một bộ bà ba, một áo dài vải trắng, một áo vải dài ú đen, một nón trắng và một đôi giày bố trắng. Anh Tư Ổi thay mặt số bổn đạo Bồng Lai đích thân xin chạm cần cơ có hình Long, Phụng, Qui, Lân và một cần cơ có hình chim Phụng dành cho đàn cơ nữ phái để tặng cho đoàn truyền giáo hai đại Ngọc cơ và tất cả anh em Đại Thanh mời Anh Lớn Lê Kim Tỵ chiều ngày 14 tháng 9 đến Đại Thanh dự buổi tiệc tiễn hành và đêm rằm sẽ lập đàn cơ lần chót để lãnh nhiệm vụ sáng ngày 15-9 Giáp Tuất (1934) lên đường truyền đạo Trung Kỳ.
<br />       Tiếp đến đêm mồng 8 tháng 9 cũng tại Thánh Tịnh Đại Thanh có đàn cơ thường lệ, hôm ấy các Đấng Thần Tiên vui mừng ngày truyền đạo Trung Kỳ nên có những lời thơ tiễn hành, có bài Thánh Giáo của Đức Đông Phương Lão Tổ đề cập (cũng là tiên tri) việc mấy năm sau cơ đạo Trung Kỳ gặp nhiều khảo đảo để nung nấu đức tin bổn đạo, thấy cũng cần chép vào đây để giữ lại tài liệu lịch sử sau này.</font>
<br />
<br />(còn tiếp ...)
 

nguoihocDao

New member
       <font color=BLUE>Đàn cơ hôm ấy quý anh Trần công Bang Pháp Đàn, Quy Lân Phò Loan, Phụng Châu Độc Giả, Lâm Hồng Hẩu Điển Ký.
<br />Mở đầu :Thần Hoàng Bổn Cảnh, bữa nay là bữa ta vui mừng cùng chư Thiên mạng, chước tiên tửu ta tiển hành mấy vần thơ :
<br />                                     Nghìn dặm xa xôi cánh nhạn trường.
<br />                                    Kề vai xốc gách đạo lên đường.
<br />                                     Ân Thầy bao quản thân vùi dập.
<br />                                     Nghĩa bạn cùng chung gót trỗi bương.
<br />                                     Quyết phá cho tan màn hắc ám
<br />
<br />  
<br />                                     Toan xoay trở lại mối can thường.
<br />                                     Thân tu thiên hạ an bình đẳng.
<br />                                     Hồ thỉ nam nhi đáng để gương.
<br />                Khá thành tâm cung thỉnh chư Tiên, bản Thần lui .
<br />
<br />        Tiếp điển : Đông Phương Lão tổ.
<br />        Ta rất vui cùng chư Thiên mạng, khai tiên tửu đàn để chư Tiên tiển hành Thánh mạng Giáp Đạo Trung Châu:
<br /><center>Vạn lý quan sang Thánh mạng truyền.
<br />Trường đồ tận lực khả tri Thiên.
<br />Đương vi phận sự thiên vi kế.
<br />Nhứt nhựt đồ lao vạn sự thiền.
<br />                             * * *
<br />Thuyền lướt sóng lúc dồi lúc dập.
<br />Sóng bổ thuyền lượn thấp lượn cao.
<br />                Gớm ghê cho cái phong trào,
<br />Bức tranh lắm thợ vẽ màu đỏ đen.
<br />Lò tạo hóa đúc rèn nhân vật.
<br />Lòng người đem cải cách ý Trời.
<br />        Té ra ngươi hại lấy người,
<br />Người hư đời hoại lòng Trời chẳng yên.
<br />Hội Thần Thánh Phật Tiên đủ mặt.
<br />Truyền Đông Tây Nam Bắc đạo mầu.
<br />Khắp trong thế giới hoàn cầu,
<br />Nam Bang vận hội Trời đâu riêng gì.
<br />Nam đã đành Trung Kỳ đến lúc.
<br />Trung khó khăn cho cuộc hành trình.
<br />Đứng trong thế cuộc bất bình,
<br />Thử người cho biết thử mình cho cao.
<br />Ví dù có có sao đi nữa.
<br />Trung với Thầy Thầy hứa giúp cho.
<br />Miễn trò cho đáng phận trò,
<br />Phải lường nơi cạn phải dò chỗ sâu.
<br />Khá nhớ lời trước sau căn dặn.
<br />Gánh tang bồng nhẹ nặng đừng than.
<br />Chung một mối, rẽ đôi đàng,
<br />Chí trơ như đá, lòng an như đồng.
<br />Dầu có chi cũng không chi cả.
<br />Dặn lấy lòng nôn nả chưa xong.
<br />Đầy bề ngoài đủ bên trong,
<br />Ngoại giao nội vụ mới xong cơ Trời.
<br />Thấy lòng người bật cười cười nghẹn.
<br />Lấy ý người quên hẳn lòng Trời.
<br />                              (Năm) Đinh Sửu Phát, Quang ra đời,
<br />Hiển không ưng dạ có lời bất ưng .
<br />Dần thành lập Trung Thành Thánh Thất.
<br />Là cái ngày đạo mạch lưu thông.
<br />Hiễn mích ý Tỵ chích Long,
<br />Nhơn sanh trông thấy cũng không vui lòng.
<br />Nông nổi ấy chưa xong những nổi.
<br />Mối Đạo Trời còn lối chông gai.
<br />Năm Kỷ Mão Nông Viện khai,
<br />Do Trần Hưng Đạo một tay thi hành .
<br />Hội Vạn Linh nhơn sanh kinh cụ.
<br />Bảng Long Hoa Chính Phủ chấm trường
<br />     Thử ai Bá thử ai Vương ?
<br />Cửa Càn đóng lại thì đường rộng thênh.
<br />Ngoài Chính Phủ tính đem hà hiếp.
<br />Trong Tây Ninh thừa dịp nghinh ngang.
<br />     Cười thay thế sự đa đoan,
<br />Mảnh thân đứng giữa trần hoàn mà ghê.
<br />Trong Cơ Quan lắm bề lận đận.
<br />Ngoài nhơn sanh xâm lấn đủ phương.
<br />     Thấy người Hướng Đạo mà thương,
<br />Gánh chung thiên hạ sao đương lấy mình ?
<br />Gánh mối Đạo hy sinh vì Đạo.
<br />Thương nhơn sanh hoài bão nhơn sanh.
<br />     Trời đâu phụ kẻ tâm thành,
<br />Tiểu Đồng ra giúp đức tin cho đời.
<br />Lập Hội Thánh cho rồi mỗi mỗi.
<br />Ban cấp bằng sẽ hội nhơn sanh.
<br />     Thưởng ban Trời đã sẳn đành,
<br />Làm cho mối Đạo lưu hành Bắc Trung.
<br />Cơ thực tế dùng Nông Viện trước.
<br />Các ty đều lần lượt theo sau.
<br />     Canh Thìn còn hởi lao xao,
<br />Ngăn ngừa Mật Thám xen vào quấy chơi ?
<br />     (Bài này còn nữa, chưa điền hết nay đã thất lạc ?)
<br />     Đứng giữa cõi trần.
<br />     Chìm nổi mãnh thân.
<br />     Ví dù nam nữ.
<br />     Ai cũng trọng phần.</center>
<br />                                       Ta chào lui. </font>
<br />
<br />   (còn tiếp ...)
 

nguoihocDao

New member
       <font color=BLUE>Tiếp Điển : Hải Triều Thánh Nhơn, chào chư Thiên Mạng:
<br />                                                                                            THI
<br />                                                                 Đúc mảnh thân ra giữa cõi trần.
<br />                                                              Có thân phải chịu khổ cùng thân.
<br />                                                              Gánh gồng nghĩa vụ thân nam tử.
<br />                                                              Quyết giũ cho xong mối nợ nần.
<br />                                                                                             BÀI
<br />                                                              Nợ nần gánh đôi vai triều triệu.
<br />                                                              Cả đôi bên này hiếu này trung.
<br />                                                                      Phong ba thử chí anh hùng,
<br />                                                      Ai tâm vì Đạo ai trung với Thầy ?
<br />                                                              Trông thời cuộc đắng cay thê thảm !
<br />                                                              Ngắm nhơn tình hoài cảm nhơn tình.
<br />                                                                      Đời chiến tranh Đạo tương tranh,
<br />                                                      Kẻ ngăn phía trước người giành phía sau.
<br />                                                              Rất đổi đớn đau . . . . . . . . . . . . . . . . . .
<br />        Tiếp Điển : Nam Cực Tiên Ông, Tôn Sư mừng các hiền đồ :
<br />                                                                               TRƯỜNG THIÊN :
<br />                                                              Vật nên giá ráng bào ráng đẻo.
<br />                                                              Đạo gặp thời kẻ kéo người lôi.
<br />                                                                   Chỗ thì vá, chỗ thì bồi,
<br />                                                         Vá   rồi lại lỡ, lỡ rồi vá lên.
<br />                                                              Các hiền sắc chớ nên vô ý.
<br />                                                              Để mà coi từ Tý chí Thìn.
<br />                                                                   Biết bao nông nổi gặp ghềnh,
<br />                                                         Bất   bình mà đến hòa bình đấy nghe !
<br />                                                               <strong>Bang</strong> lòng chớ mựa hề thay đổi.
<br />                                                               <strong>Giang</strong> nhớ rằng phước tội cũng Ta.
<br />                                                                   <strong>Long</strong> lanh rọi khắp gần xa,
<br />                                                        Bồng sơn <strong>Phụng</strong> hiện lạc hà ẩn <strong>Qui</strong>.
<br />                                                               <strong>Lân</strong> vẹn dạ đừng nghi đừng ngại.
<br />                                                               <strong>Châu</strong> để lòng việc phải việc không.
<br />                                                                   <strong>Hẩu</strong> đặng quả bởi nhiều công,
<br />                                                      <strong> Quế</strong> chi tú mậu cũng trong xuân thời.
<br />                                                           <strong> Liêm</strong> phủi sạch nợ đời thong thả.
<br />                                                           <strong> Bặc</strong> đường tu công qủa đáng công.
<br />                                                               Muốn ăn qủa cây lo trồng,
<br />                                                       Mình không tìm quả quả không tìm mình.
<br />                                     &nb sp;         &nb sp;     Cao phi hồng hộc minh minh.
<br />       Tại Thánh Tịnh Đại Thanh đêm 14-9 năm Giáp Tuất thật là cái đêm mừng vui lịch sử đáng ghi nhớ, ngoài sự hiện diện anh chị Lớn Lê Kim Tỵ, anh em bổn đạo Đại Thanh đủ mặt và một số anh em gốc người Trung, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, các Thánh Thất Cầu Kho, Tân Định, Linh Quang Tự cũng đến dự tiệc tiễn hành Đoàn Sứ Giả truyền đạo Trung kỳ.
<br />
<br />       Sau buổi tiệc mừng vui chấm dứt, đến lập đàn cơ để Thiêng Liêng dạy thêm. Tiếc rằng những Thánh Giáo này thất lạc nay chỉ còn nhớ đại ý : Ban đầu Đức Lý Giáo Tông đến dặn dò những việc tiến hành và cho biết có Lục My Chơn Thánh - Ngọc Quế Chi Lan Thần được lệnh theo hộ trì đoàn sứ giả, nên bất cứ lúc nào có việc gì cần thì lập đàn hoặc trường hợp đặc biệt thì chấp bút Ngọc Quế Chi Lan sẽ đến chỉ vẽ, sau cùng Đức Cao Đài Thượng Đế giáng đàn.
<br />
<br />       Đêm ấy Đức Cao Đài, Ngài rất vui mừng ngày Khai Đạo Trung Châu. Ngài có lời khuyên nhủ khích lệ mọi người, kẻ ở cũng như người đi, đâu đâu cũng cùng một nhiệm vụ một mục đích độ đời, mưu cầu hạnh phúc tự do cho con người, hãy hết lòng phục vụ đừng quản ngại khó khăn gian khổ, chi chi cũng có lẽ Trời và Ngài dạy anh Trần công Bang để có danh nghĩa xứng đáng là Trưởng Đoàn Ngài Ân Phong cho phẩm vị Giáo Sư, cố làm tròn sứ mạng Ngài sẽ trọng thưởng và khi nào lập Hội Thánh sẽ phong phái, đoạn chót có bài trường thiên điểm Hồng Danh cho cả mọi người, tôi chỉ còn nhớ bốn câu thơ điểm danh cho tôi có nhắc cả Tứ Linh Đồng Tử, về sau đọc lại như một lời tiên tri mà tôi không thể quên được, xin chép lại đây để suy gẩm thấy sự mầu nhiệm : . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
<br />                                                                   <strong>LONG</strong> con hãy nặng phần trách nhiệm.
<br />                                                                   Bảng <strong>QUI, LÂN, PHỤNG</strong> nhắm rừng non.
<br />                                                                          Lời Thầy gắng nhớ nghe con,
<br />                                                        Dầu chi chi nữa cũng còn Thầy đây. . . . . .</font>
 

nguoihocDao

New member
<font color=BLUE>
<br />Sau cùng có Ngọc Quế Chi Lan Thần đến lãnh nhiệm vụ hộ trì và có mấy lời thơ tiển hành .
<br />Tiếp điển : Ngọc Quế Chi Lan Thần chào các em, anh đến đây để tiển hành các em trước lúc lên đường về trung.
<br /><center>THI
<br />Xa xôi ngàn dặm gánh ra đi.
<br />Hẹn sẽ theo em để hộ trì.
<br />Cái dễ chẳng ngoài trong cái khó.
<br />                   Dắt nhau quyết thẳng đến trường thi.
<br />BÀI
<br />Đến trường thi <strong>Phụng Qui</strong> chiếm bảng.
<br />Bảng treo lên nào bạn <strong>Lân</strong> đâu ?
<br />       <strong>Giang</strong> ngân sắc nước lạt màu,
<br /> <strong>Bang</strong> ra thật dễ thâu vào thật gay.
<br /><strong>Long</strong> vân sẽ có ngày giao hội.
<br /><strong>Châu</strong> nên châu cần đổi lại châu.
<br />       Dặn dò em lúc canh thâu,
<br /> Đào viên kết nghiã Trung Châu khởi hành.
<br />       Nặng gánh nhơn sanh
<br /> Phận trai đã đành
<br />       Mập mờ biển bạc non xanh,
<br />Chim kêu vượn hú vắng tanh giọng người.
<br />       Lênh đênh góc bể chân trời,
<br />Ở đời phải gánh nợ đời cho xong.
<br />                             Thủy chướng cuồng phong
<br />                  Anh em vững lòng
<br />      Vững lòng xốc gánh nhơn sanh,
<br />Các em vũng chí có anh giúp cùng.
<br />      Quan san muôn dặm ruổi dong,
<br />Vào Nam lúc trước về Trung buổi này.
<br />   Em đây anh đây
<br />Có bạn có Thầy
<br />      Buồm trương chèo cũng đã gay,
<br />Giang sơn đắp vẽ thiệt tay thợ Trời.
<br />      Đường xa phong cảnh đổi dời,
<br />Đáy sông cá lội phương trời nhạn bay.
<br />Vui thay! vui thay!
<br />      Lái lèo nắm vững một tay,
<br />Trôi xuôi xuôi thẳng, chẳng quày quày ra!. . .</center>
<br />      
<br />       <strong>Rạng ngày15-9 Năm Giáp Tuất (Thứ hai 22-10-1934) Đoàn Sứ Giả lên đường về Quảng Nam thi hành sứ mạng Truyền Đạo Trung Kỳ.</strong>
<br />
<br />     Đoàn Sứ Giả danh nghĩa thật lớn lao, nhưng thực tế chỉ một đoàn thanh thiếu niên vô danh gồm 7 người đúng như Đức Cao Đài phán dạy, cũng nên ghi lại đây thành phần và quê quán để anh em sau này biết :
<br /><strong>- Trần công Bang 29 tuổi quê Bất Nhị, nhiệm vụ Pháp Đàn. Trưởng Đoàn.
<br />- Thân đức Giang 25 tuổi quê Câu Nhị , nhiệm vụ Điển Ký.
<br />- Thanh Long 17 tuổi quê Bảo An, nhiệm vụ Đồng Tử.
<br />- Bạch Phụng 19 tuổi quê Bất Nhị, nhiệm vụ Đồng Tử.
<br />- Kim Quy 16, tuổi quê Bất Nhị, nhiệm vụ Đồng Tử.
<br />- Xích Lân 14 tuổi quê Bất Nhị, nhiệm vụ Đồng Tử.
<br />- Trần Quang Châu 20 tuổi quê Tư Phú, nhiệm vụ tạm Độc Giả.
<br /></strong>
<br />Tất cả đều ở quận Điện Bàn tỉnh Quảng Nam.
<br />
<br /></font>
 

nguoihocDao

New member
<font color=RED> <strong>11/. ĐỘ QUÍ VỊ HƯỚNG ĐẠO ĐẦU TIÊN
<br />       THÁNH SỞ THANH QUANG TỪ QUANG RA ĐỜI :</strong></font>
<br />
<br />       <font color=BLUE>Lúc ấy tôi ở Quảng Nam chờ đón quí anh về, gặp nhau mừng vui khôn tả. Mặc dầu vậy việc hai anh Liêm, Bặc từ trần một mối thương tâm thời gian lâu mới nguôi được nhất là anh Lê văn Liêm, trong đoàn truyền đạo thiếu anh như thiếu một cái gì đó to tát, ước chi còn có anh công cuộc truyền đạo Trung Kỳ này anh sẽ là một tay lèo lái đắc lực, mặc dầu anh bây giờ là “Lục My Chơn Thánh” theo hộ trì, nhưng tiên tục hai đàng khó mà dắt dìu.
<br />
<br />       Sau buổi hàn huyên quý anh đi xa mới về cần phải nghĩ vài hôm và cũng để tôi có thì giờ đọc lại hết các đàn cơ Thiêng Liêng dạy về công cuộc truyền đạo, vì thời gian ấy tôi vắng mặt nên 3,4 hôm sau mới họp nhau tại nhà ông Xã Xước (thân sinh anh Trần công Bang) để bàn cách tiến hành.
<br />
<br />       Trước hết lập đàn cơ cầu Ngọc Quế Chi Lan chỉ vẽ hành trình, hôm ấy không ngờ lại có anh Lê văn Liêm (Lục My Chơn Thánh) về cơ phân trần về lẽ sinh tử, về kiếp vô thường con người để an ủi mẹ già (bà Mục Cưu) và nói đến việc trọng đại về công cuộc truyền đạo Trung Kỳ, nếu anh còn tại thế chưa chắc đã hộ trì được bằng sự tác dụng vô hình. Tuy bà Mục Cưu và gia đình khóc thương thảm thiết nhưng cũng phải nguôi đi để nghe Ngọc Quế Chi Lan nói về cách thức hành đạo…
<br />
<br />       Từ đó chúng tôi lập ra thường lệ mỗi tháng có bốn ngày lập đàn là mồng 1, mồng 8, rằm và 23; trước để quy tụ số bổn đạo cũ tại Bất Nhị và quanh vùng, mời những vị thân hào nhân sĩ có thiện chí có cảm tình đến hầu đàn, nên đàn cơ nào cũng có người nhập môn.</font>
<br />
 

nguoihocDao

New member
<strong> <font color=RED> A- ĐỘ ANH NGUYỄN QUANG CHÂU </font> </strong>
<br />
<br />      <font color=BLUE> Anh Nguyễn Quang châu là một thanh niên khôi ngô tuấn tú, một tu sĩ đồng chơn nổi tiếng trong giới Đạo Minh Sư lúc bấy giờ năm ấy anh 23 tuổi, sinh năm Nhâm Tý (1912) đời anh sẽ nói ở đoạn sau.
<br />
<br />       Duyên do đưa đẩy anh gặp chúng tôi từ việc Đức Thái Lão Trần Đạo Quang coi như là Sư Tổ của Đạo Tam Giáo Minh Sư ở Trung Kỳ, đã tuân mạng Thượng Đế qui hiệp về với Tam Kỳ Phổ Độ tức nền tân giáo Cao Đài. Việc này phản ứng trong bổn đạo Minh Sư, lớp các vị tu sĩ già không bằng lòng trừ một số có tinh thần cầu tiến quan tâm đến thế đạo nhân sinh, nhưng phái trẻ thì rất chú ý tìm hiểu. Vì vậy từ năm Quý Dậu 1933 số anh em ở Bất Nhị nhập Đạo Cao Đài khá đông, phát xuất từ nhà bà Mục Cưu ông Xã Xước nhất là anh em trẻ chúng tôi như đã nói ở đoạn trước. Lúc ấy anh Nguyễn Quang Châu (thường gọi là Giáo Châu) đương dạy học ở nhà ông Phó Trang, năm sau dạy ở nhà Kiểm Huyền cùng làng Dinh Trận giáp liền với Bất Nhị, nên anh thường lui tới chơi với anh em chúng tôi ở Bất Nhị mượn kinh sách Thánh Ngôn Thánh Giáo về Đạo Cao Đài để tìm hiểu đạo mới.
<br />
<br />       Quen biếi với anh em Bất Nhị (lúc ấy có tôi) thời gian anh tỏ ra có thiện cảm với chúng tôi với Đạo Cao Đài qua các bài Thánh Giáo nhất là bài ngụ đời, quyển Giác Mê Khải Ngộ. Vì vậy tháng 9 năm Giáp Tuất (1934) chúng tôi được lệnh Thiêng Liêng về Trung Kỳ mở đạo, được tin anh đến thăm ngay và xin được đọc các bài Thánh Giáo về việc truyền đạo Trung Kỳ, và anh xin được hầu đàn cơ .
<br />
<br />       Lúc bấy giờ cố nhiên chúng tôi rất hoan nghênh, vì chúng tôi mong có được một người như anh để cho Đoàn Sứ Giả chúng tôi có thêm thanh thế mới mong phổ độ được rộng rãi .
<br />       Đêm mồng 1-10 năm Giáp Tuất, lần đầu tiên anh đến hầu đàn cơ tại nhà anh Trần công Bang (nhà ông Xã Xước Bất Nhị) được Đức Cao Đài giáng dạy khuyên anh hiểu thời phục hưng qui hiệp về với Tam Kỳ, hoằng dương Chánh Pháp tận độ chúng sanh. Anh tuân mạng xin cho suy nghĩ lại.
<br />
<br />       Ra đàn anh tâm sự với chúng tôi, anh rất lấy làm diễm phúc được Đức Thượng Đế khuyên dạy dắt dìu, anh chỉ còn nghĩ nghĩa tình sư đệ với Ngài Lão Dương và còn thưa lại với bà cụ Chánh thân mẫu của anh.
<br />
<br />       Đêm mồng 8 tháng 10 nhà ông Xã Xước có đàn cơ anh đến phục mạng xin quy hiệp qua Tam Kỳ và xin được thiết lập một đàn cơ tại nhà anh. Hôm ấy được Đức Lý Giáo Tông chấp nhận Ngài chọn ngày rằm tháng 10, ngày Khai Đạo Trung Kỳ cho thiết lập đàn cơ tại nhà anh để anh phát nguyện trong ngày đó đánh dấu “Ngày Khai Đạo”.
<br />
<br />       Từ vâng lệnh Thiêng Liêng ra Trung Kỳ mở đạo đến hôm ấy14-10 vừa đúng một tháng, lần đầu tiên Đoàn Sứ Giả chúng tôi được lệnh đến lập đàn cơ tại nhà anh Nguyễn Quang Châu (tư thất cụ bà Chánh Tổng Diệm), từ đó nơi nào xin lập đàn được Thiêng Liêng chấp thuận chúng tôi đến hành sự ngay, không e ngại việc chính quyền ngăn cấm.
<br />
<br />       Gia đình anh Nguyễn Quang Châu vào hàng trung lưu xã hội nhưng gia thế có nề nếp lễ giáo, cụ bà chánh người rất cởi mở vui vẻ, tỏ ra gia đình đã từng tiếp khách lúc cụ ông còn thừa hành công vụ và về sau tiếp tăng chúng khi anh Nguyễn Quang Châu đi tu, nên chúng tôi đến chỉ trong một buổi đã thân mật như người nhà, nhất là anh Nguyễn Quang Châu và Trần Quang Châu cùng con hai cụ Chánh Tổng cùng học một trường Bảo An, anh Trần học sau anh Nguyễn một lớp thành hai nhà đã liên hệ nhau từ trước.
<br />
<br />       Anh Nguyễn Quang Châu là đích tôn Trưởng Tộc của một nhánh họ Nguyễn nên nhà anh một Từ Đường thờ phụng rất là tôn nghiêm, anh vẫn thờ Phật Trời theo Đạo Minh Sư ngoài anh có để tấm biển nhỏ “Đồng Chơn Tự “.
<br />       
<br />       Đàn cơ hôm ấy anh có mời một số bà con, có vị anh đã độ tu theo anh và môt số qúi vị đạo tâm Minh Sư khoản 20 người… .Ban đầu Đức Lý Giáo Tông đến chứng lễ phát nguyện của anh và cả gia đình, dạy qua ý nghĩa về cơ phổ độ, nhất là đến giai đoạn Trung Bắc Kỳ tiếp đến Đức Cao Đài Thượng Đế đến ban ơn lành cho anh cả gia đình và cho cả đàn, nhắc lại trước kia anh phát nguyện độ đời ngày nay ước nguyện đó đã đến, khuyên anh hết lòng nhận lãnh sứ mạng phổ truyền chơn đạo Trung Kỳ gia nhập Đoàn Sứ Giả làm cho xứng đáng là bậc Hướng Đạo tiền phong Ngài sẽ dìu dắt và dạy đạo chung cho cả đàn làm cho mọi người hăng hái càng tin đạo mới.
<br />
<br />       Đoàn truyền giáo chúng tôi bấy giờ có thêm anh Nguyễn Quang châu thêm một kiện tướng, sứ mạng phổ truyền chơn đạo từ đây càng thêm sự hoạt động mạnh mẽ. Sau đàn cơ đêm rằm tháng 10, tuần lễ sau tiếp lập một đàn cơ nữa tại nhà anh Nguyễn Quang Châu cho bà chánh thân mẫu anh và cả gia đình lập nguyện, rồi từ đó cứ một tuần có một đàn cơ tại nhà anh hoặc tại nhà anh Trần công Bang để phổ độ.
<br />     
<br />       Mổi lần đàn cơ xong anh Trần công Bang đọc lại Thánh Giáo với giọng đọc miền Trung bổng trầm du dương rất là truyền cảm vì anh Trần công Bang có giọng đọc rất tốt,đến anh Nguyễn Quang Châu giảng lại nghiã lý để mọi người nhất là các bà và anh em giới bình dân dễ hiểu.Lần họp nào cũng có đàn cơ hoặc chưa đến giờ lập đàn thì các anh đọc và giảng các Thánh Ngôn Thánh Giáo giáng cơ trong nam nên được nhiều người hâm mộ.Vì vậy mà lần giảng đạo hoặc lập đàn nào cũng có vài ba người nhập đạo hoặc từ Minh Sư xin qui hiệp.
<br />     
<br />       Bổn đạo ngày gia nhập một đông nhu cầu cần có một nơi hội họp lễ bái, anh Nguyễn Quang Châu thưa với thân mẫu xin hiến ngôi nhà cho đạo để làm Thánh Sở. Thân mẫu anh đồng ý hiến cúng, nhưng phải hội ý với qúi ông qúi chú và gia đình, vì lẻ anh là đích tôn Trưởng Tộc.
<br />     
<br />       Mọi việc sắp xếp xong ngày 15-11 Giáp Tuất, nhân đàn cơ tại nha anh bạch xin hiến ngôi nhà đễ lập Thánh Sở. Được Thiêng Liêng chấp nhận và ban cho Thánh hiệu “Thanh Quang Thánh Tịnh” là Thánh Sở đầu tiên cuả công cuộc truyền đạo Trung Kỳ.
<br />     
<br />       Vì bổn đạo Minh Sư qui hiệp về với Cao Đài ngày càng đông, đễ không thấy sự thay đổi nhiều anh Nguyễn Quang Châu bạch xin Đức Lý Giáo Tông cho số bổn đạo cũ dược giữ nguyên pháp danh và ban cho pháp danh số mới nhập đạo. Như anh Nguyễn Quang Châu pháp danh Chơn Khai sau gọi là Nguyễn Chơn Khai, cụ bà thân mẫu anh Phan thị Vân pháp danh Tịnh Chuyển sau gọi Phan Tịnh Chuyển v.v…
<br />     
<br />       Bổn đạo Minh Sư theo anh về với Cao Đài ngày một đông nên Ngài Lão Sư Trần văn Định (Lão Đương) có sự phiền trách, nhưng không đến bắt tội anh bỏ thầy bỏ đạo vì Đức Thái Lão Trần Đạo Quang là thầy của Ngài Lão Đương đã tuân mạng Thượng Đế qui hiệp về với Cao Đài từ buổi đầu.
<br />     
<br />       Cơ đạo đương mở đầu phát triển, Phò Loan chúng tôi thay phiên phò cơ liên miên để việc phổ độ chóng rộng mở, bất ngờ mối đau buồn thống thiết đưa đến cho Đồng Tử Phụng Quy nói riêng, chúng tôi nói chung. Ngày 20-11 Giáp Tuất cụ bà Mục Cưu (Trần thị Cải) từ trần sau 10 hôm yếu đau thông thường. Cụ bà Mục Cưu mất, gia đình họ Lê tê tái nhất là hai bạn Bạch Phụng Kim Quy, chưa đầy bốn tháng khóc hai anh nước mắt chưa khô, nayđã phải khóc mẹ. Tang lễ cụ bà Mục Cưu xong, chúng tôi tiếp tục hành sự đễ công cuộc phổ truyền không bị gián đoạn.
<br />     
<br />       Đàn cơ đêm mùng 1-12 Giáp Tuất tại nhà cụ Trần công Trác thân sinh anh Trần công Bang Đức Lý Giáo Tông đến dạy đạo thường lệ. Ngài ban cho ngôi nhà này Thánh Hiệu “Từ Quang Thánh Thất” để đủ danh nghiã mở cơ phổ độ. Thế là hai Thánh Sở đầu tiên Thanh Quang và Từ Quang ra đời, cơ phổ độ càng thêm mở rộng, tổ chức có nề nếp đúng với lời tiên tri đàn cơ đêm 24-8 Giáp Tuất 1934 tại Thánh Tịnh Đại Thanh . “Thanh Từ trổ mặt Quang Quang”
<br />     
<br />       Về hai Thánh Sở này, một số anh em cứ lầm lẫn Thánh Thất Từ Quang ra đời trước, vì lẻ anh Trần công Bang đem đạo về Trung và nhà anh (nhà cụ Xã Xước) là nơi khai giáo trước, nhưng ở đây không phải vậy. Thánh Ý cho Thánh Tịnh Thanh Quang ra đời trước để kỷ niệm sự tiếp nối tinh thần từ phái đạo Tiên Thiên ra Trung (Tiên Thiên chỉ có Thánh Tịnh) tiếp đến Thánh Thất Từ Quang mở đầu đường lối trở về với Pháp Chánh Truyền Tân Luật, nên từ đó về sau là Thánh Thất mà không có Thánh Tịnh nữa, vạch ra một đường hướng trở về với chơn truyền đạo pháp buổi đầu.</font>
<br />
 

nguoihocDao

New member
<strong><font color=RED>B- ĐỘ ANH NGUYỄN ĐÁN .</font></strong>
<br />
<br />       <font color=BLUE>Anh Nguyễn Đán còn có tên là Nguyễn văn Minh thường gọi là anh Hương Niên người làng Phú Bông Quảng Nam, một thanh niên giang hồ phiêu bạt (đời anh sẽ nói ở đoạn sau) không rỏ bởi nguyên nhân nào thúc đẩy. Năm 1934 tự anh ngao ngán cuộc đời muốn dừng chân lưu lạc, anh không thích đi đó đây nữa ở nhà đọc sách báo, anh thích đọc nhất Tạp Chí Niết Bàn cuả nhóm Thông Thiên Học ở Sài Gòn ấn hành và báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Huế.
<br />
<br />       Thời gian đọc sách báo Tạp Chí Niết Bàn đã dẫn dắt anh có ý hướng về tôn giáo, anh bắt đầu ăn chay và chú tâm đến các nhà đạo học để tìm hỏi những gì anh thắc mắc
<br />
<br />       Lúc bấy giờ cái tên Giáo Châu làng La Kham (anh dạy học nên gọi Giáo Châu) người thanh niên chân tu anh được nghe nói nhiều, nhất là các ông bà theo Đạo Minh Sư. Rồi bất ngờ gặp anh Giáo Châu đi qua Phú Bông một vài lần, anh để ý và cảm nghĩ đầu tiên anh hơi thắc mắc, một thanh niên rất đẹp trai phục sức trang nhã thường vận áo lương dài (có khi áo cặp trong trắng ngoài đen) đội khăn đóng lượt, chân đi giày bố trắng hoặc san đanh, che dù sâu (tân thời) đeo kính râm tay có chuổi hột, luôn luôn mang theo cặp da đựng kinh sách lễ phục và thường dắt theo một đệ tử, phong độ ra một vị quan trường Đề lại, Thông phán hay Phủ Huyện. Nếu không có chuổi hạt và cử chỉ cung kính mổ khi có người chào hỏi chắp tay xá đáp lễ thì không có vẽ gì là người tu hành, nên anh nghĩ bụng hẳn anh thầy tu trẻ đẹp tuấn tú này có cái gì đặc biệt ? Anh cho đón mời anh Giáo Châu về nhà.
<br />
<br />       Phần anh Giáo Châu cũng nghe nhiều về anh Hương Niên là khách phong trần lịch thế, nay được đón mời anh rất vui vẽ đến thăm và quyết định độ anh Niên để thêm một tay phổ độ.
<br />
<br />       Hôm ấy khoảng hạ tuần tháng 11 Giáp Tuất, anh Giáo Châu và anh Hương Niên gặp nhau tại nhà anh Hương Niên. Anh Hương Niên khoảng 30tuổi lớn hơn anh Giáo Châu 7 tuổi, một anh hiểu đạo một anh lịch đời đàm đạo rất là vui vẽ. Những điều thắc mắc về đạo cuả anh Hương Niên đưpợc anh Giáo Châu giải đáp thông suốt, vì Niết Bàn Tạp Chí cũng là loại báo gối đầu của anh Giáo Châu.
<br />       Nhận thấy anh Hương Niên có ý hướng về đạo, anh Giáo Châu không bỏ lở cơ hội phổ độ ngay anh Niên gia nhập nền đạo mới Cao Đài và hẹn sẽ tái ngộ. Phần anh Hương Niên sau buổi vấn đạo với anh Giáo Châu, nhận thấy ở anh Châu con người chân thành cởi mở hoạt bát, quảlà một thanh niên mộ đạo chân tu có chí mở đạo độ đời. Hơn nữa Đạo Cao Đài với anh đã được nghe biết ít nhiều trong những nbgày lưu lạc ở miền Nam, nên từ sự thắc mắc trước kia trở nên thiện cảm mến phục và rất vui vẽ mời anh Giáo Châu cho anh được gặp thêm những lần khác nữa.
<br />
<br />        Khoảng tháng chạp năm Giáp Tuất không nhớ rõ thời gian, nhân đám tang gia đình anh Thông Bốn ở Đông Yên cùng bổn đạo Minh Sư với anh Giáo Châu, anh Châu đến dự và cũng nhân đi gặp gở bổn đạo Minh Sư đễ mở rộng đường phổ độ. Không ngờ hôm ấy gặp cả anh Hương Niên, khi xong tang lễ anh Niên mời anh Châu về nhà anh ở Phú Bông chơi và trao đổi tiếp theo buổi gặp gở trước. Lần này anh Giáo Châu có mang theo các quyễn Thánh Ngôn “Giác Mê Khải Ngộ” “Tu Chơn Thiệp Quyết” cho anh Niên mượn và đọc cho anh Niên nghe những bài Thánh Giáo dạy về truyền đạo Trung Kỳvới công cuộc phổ truyền chơn đạo.
<br />
<br />              Nhận thấy anh Niên càng tỏ ra hân hoan và tương đắc, hôm ấy anh Châu ở chơi với anh Niên suốt đêm và sáng ngày mời anh Niên cùng đến Thánh Thất Từ Quang tức nhà cụ Xã Xước gặp anh Trần công Bang và hầu đàn cơ.
<br />
<br />       Đêm 23-12 Giáp Tuất đàn cơ tại nhà cụ Xã Xước, anh Hương Niên trai giới tinh nghiêm (vốn đã ăn chay) thành tâm đến hầu đàn được nghe Thiêng Liêng dạy đạo chung, đại ý khuyên mọi người hảy lấy sự vinh hạnh được sinh làm người, đừng đem điểm thiên lương và phẩm gía cao qúi của con người mà phung phí vào những cuộc truy hoang vô nghiã, chỉ có thỏa mản lòng thị dục thấp kém thế tục của cá nhân, kết cuộc bị lôi cuốn vào bánh xe oan nghiệt luân hồi! Hảy đem con người cao qúi ấy phục vụ cho chân lý, cho lợi ích xã hội nhân sinh và khuyên anh Niên vốn có căn lành, có chí nguyện độ đời, nay may duyên gặp thời đại ân xá Thượng Đế đến mở đạo tại Nước Nam này, hảy phát nguyện hiến thân vào cửa đạo để làm tròn nguyện lực. . Anh Niên bạch: nhà còn mẹ già xin cho suy tính lại.
<br />Đêm 30 rạng mùng 1-1 Ất Hợi 1935 ngày Nguyên Đán tại Thánh Tịnh Thanh Quang bổn đạo nam nữ đến hầu đàn khá đông, số người mới đến xin nhập môn hoặc xin được hầu đàn cũng nhiều nên phải lập hai đàn cơ, một đàn cho nam và một đàn cho nữ do hai cặp Phò Loan chúng tôi chia nhau hành sự.
<br />
<br />       Trước giờ lập đàn cơ có lễ cúng nước và nhập môn cho các vị mới nhập đạo. Hôm ấy người nhập môn trước nhất là anh Nguyễn Đán do anh Nguyễn Quang Châu dẫn tấn và anh Trần công Bang bảo cử. Anh được ban pháp danh là Như Sơ nên từ đó Thần Tiên giáng cơ thường gọi anh là Nguyễn Như Sơ hoặc Nguyễn Đán theo thế danh.
<br />
<br />       Lệ thường đàn cơ phổ độ, Thần Tiên hay dùng huyền diệu kêu tên những người hầu đàn trả lời những mật niệm hay mật khải. Đàn cơ đêm ấy là đàn tân xuân đầu tiên vui mừng nhất ở xứ Trung Kỳ, Đức Cao Đài Thượng Đế đến ban ơn chung cho tất cả mọi người và gọi tên mỗi người dạy đạo, tiếp đến đàn cơ cho nữ phái sau cùng đức Lý Giáo Tông đến dạy về năm Ất Hợi cơ phổ độ sẽ bắt đầu mở rộng. Ngài khuyên anh Nguyễn Chơn Khai, Nguyễn Như Sơ hết lòng cùng anh Trần công Bang trong đoàn phổ truyền Chơn đạo sẽ được ban nhiều ơn phước sau này. Cuối cùng trả lời mật nguyện ông Đỗ Chấp Trung (Cửu Xoa) việc xin lập đàn cơ tại nhà ông để gia đình cùng số bổn đạo Minh Sư theo ông xin qui hiệp và xin cho nhà ông được làm nơi phổ độ. Được Đức Lý Giáo Tông chấp nhận, cho ngày mồng 9-1 At Hợi là ngày khai đàn đầu tiên.
<br />
<br />       Thế là đoàn sứ giả Truyền Giáo chúng tôi nay có thêm anh Nguyễn Đán, đủ tay văn võ thêm sức lái lèo lại được có nhà ông Đỗ Chấp Trung làm nơi khai đàn phổ độ, dấu hiệu đầu tiên năm At Hợi cơ phổ độ sẽ rộng mở như lời Đức Lý Giáo Tông đã dạy, chúng tôi càng thấy hăng hái chuẩn bị hành trang lên đường.
<br />
<br />       Ở đây cũng cần ghi lại ông Đỗ Chấp Trung quê làng Ô Gia phủ Duy Xuyên Quảng Nam. Họ đỗ ông được nổi tiếng bởi cụ Đỗ Đăng Tuyền (cụ Tú ÔGia) nhà ái quốc cách mạng được cụ Sào Nam rất tin cậy, ông hoc nho thông mộ đạo sớm, ông thọ giáo theo đạo Tam Giáo Minh Sư cùng với Ngài Lão Sư Đương, Quảng Đợi nên biết nhiều về anh Giáo Châu, hơn nữa Đức Thái Lão Trần Đạo Quang qui hiệp với Đạo Cao Đài ông đã có ý muốn tìn hiểu nhiệm mầu cơ bút, nên khi biết anh Giáo Châu qua Cao Đài và nhà anh thường có đàn cơ ông đến xin hầu đàn với mật nguyện nói trên được Đức Lý Giáo Tông chấp nhận ông rất vui mừng.
<br />
<br />       Theo tổ chức Đạo Minh Sư những tu sĩ đến hàng Chức Sắc trung cấp “Lãnh Thiên Ân” thì được thiết lập một Phật Đường để tiếp tăng độ chúng kết nạp đệ tử như Quan Tế Đường, Viên Tế Đường, Vĩnh Tế Đường v.v…thì nhà ông Cửu Xoa cũng được một Phật Đường, nên ông sẵn có số bổn đạo do ông hướng dẫn.
<br />
<br />       Ngày mồng 8 tháng giêng Ất Hợi sau đàn cơ xuân tại Thánh Thất Từ Quang Bất Nhị, đoàn chúng tôi bây giờ có cả 9 người : Bang, Khai, Sơ, Long, Phụng, Qui, Lân, Giang, Châu và đạo hữu Thanh Chuyên cũng xin tháp tùng, chúng tôi đồng phục áo dài đen mũ trắng, giày trắng cặp da đựng kinh sách hành trang và Đại Ngọc Cơ trong túi vải như một cây đàn, lên đường như đàn hát đến nhà ông Cửu Xoa cho kịp giờ khai cơ đêm mồng 9 ngày Vía Trời theo lịnh Đức Lý Giáo Tông.
<br />
<br />       Đàn cơ hôm ấy Đức Lý Giáo Tông đến dạy ông Đỗ Chấp Trung về nền Tân Pháp, ông may duyên sớm gặp Đạo Trời được ơn cứu đo, với tâm thành mộ đạo chưa đủ ông phải xả thân hành đạo độ đời mới giải thoát được nghiệt oan từ trước mà gia đình ông gánh chịu. Thần Tiên hứa sẽ dìu dắt ông và cho tại nhà ông mỗi tháng một kỳ đàn cơ phổ độ.
<br />
<br />       Ông rất khâm phục, hôm ấy số người xin phát nguyện qui hiệp và nhập môn cả gia đình ông, bên ngoài được mười mấy người. Từ đó hàng tháng chúng tôi đến lập đàn cơ và giảng đạo tại nhà ông Cửu Xoa một lần trừ những lần phổ độ đặc biệt.</font>
<br />
<br />
 

nguoihocDao

New member
<strong><font color=RED>C - ĐỘ Ngài QUAN LỘC TỰ KHANH LÊ TRÍ HIỂN .</font></strong>
<br />
<br />                <font color=BLUE>Cụ Lê Trí Hiển (cụ Hường Hiển hoặc Phủ Hiển) vị hưu quan quê làng Đa Hòa tỉnh Quảng Nam (thân thế và sự nghiệp sẽ nói ở đoạn sau). Lúc còn đương chức tại Triều Đình Huế cụ vốn thích hầu các đàn Tiên do Ngài Liễu Hạnh Công Chúa tức là Vân Hương Thánh Mẫu có khi Đức Trần Hưng Đạo Vương giáng bút, nay đến tuổi hưu lão cụ về nghỉ ngơi ở quê nhà.
<br />
<br />     Cụ Hường Hiển có người cháu gọi chú ruột tức anh Lê Kỳ (Mười Tung) quê vợ anh ở làng Quảng Đợi, gia đình có tu theo Đạo Minh Sư cũng ở gần nhà ông Cửu Xoa làng Ô Gia. Anh Lê Kỳ có người anh vợ ông Thủ Tân nhập môn vào Đạo Cao Đài theo Tòa Thánh Tây Ninh, có phổ độ anh nhiều lần anh chưa theo nhưng có thiện cảm với nền đạo mới. Năm ấy nhân nhà ông Cửu Xoa có đàn cơ phổ độ anh và gia đình vợ đến xin hầu, anh được nghe Thần Tiên giáng cơ dạy đạo và kêu tên anh làm cho anh và gia đình vợ rất thành phục xin phát nguyện nhập đạo. Nhân đó anh chép các đàn cơ và tìm đến anh Giáo Châu mượn kinh sách Thánh Ngôn mang về đọc cho cụ bà Lê Trí Hiển và chị Lê thị Cả (Cửu Diển) trưởng nữ cụ Hường Hiển cùng nghe và cho mượn cuốn Huấn Nữ Từ Âm giáng cơ ở Thánh Tịnh Đại Thanh Sài Gòn. Cốt ý anh cũng muốn phổ độ bà cụ Hường và chị Cửu Diển mà chưa nói. Nhân thấy cụ bà đọc các bài cơ bút cụ Hường lấy xem và cho gọi anh Lê Kỳ đến trình bày đầu đuôi, cụ Hường tỏ ý muốn được hầu đàn và bảo anh Lê Kỳ hỏi các anh Giáo Châu, Trần Công Bang có thể mời đến lập đàn cơ tại nhà cụ không ?
<br />
<br />     Khi được nghe anh Lê Kỳ tỏ bày ý kiến cụ Hường Hiển lòng chúng tôi rất đổi vui mừng, mấy tháng qua đương tính cách nào để độ cho được một vị quan trường trong Nam, nếu không cũng là vị hưu quan để lôi kéo giới trí thức và hằng sản tuy có thiện cảm với đạo mà sợ bị bắt bớ khó dễ không dám vào đạo. Chính anh Lê Kỳ thiết tha mong chúng tôi cầu Ơn Trên độ cho được cụ Hường Hiển. Dầu vậy anh Giáo Châu nhờ anh Kỳ chuyển lời về cụ Hường, chúng tôi sẳn sàng theo ý cụ muốn nhưng theo lịnh Thiêng Liêng phải chờ xin phép Ơn Trên chấp thuận và gia đình cụ Hường phải trai giới trong tuần thiết lập đàn.
<br />
<br />     Anh Lê Kỳ về thưa lại cụ Hường cũng thấy là phải, nhưng với cụ việc trai giới thật là khó khăn, làm sao ăn chay được cả tuần? nhưng cụ bà và chị Cửu Diễn đôn đốc mãi cụ Hường cũng bằng lòng, thật ra trong thời phổ độ Thần Tiên rất rộng rãi với việc trai giới và lập đàn cơ, nhưng dụng ý của anh Giáo Sư Châu anh Trần công Bang để thử đức tin cụ Hường có thành hay không.
<br />
<br />     Muà xuân năm Ất Hợi khoản tháng 3 không rõ ngày nào, được lịnh Thiêng Liêng chiều hôm ấy chúng tôi đến nhà cụ Hường Hiển để đêm đến lập đàn cơ. Dưới thời phong kiến ngày xưa, đến nhà Quan Phủ tuy về hưu nhưng cũng có caí gì cách biệt, các ông Lý Hương đến phần nhiều phải bỏ guốc ngoài hiên, Chánh Phó Tổng cũng phải khúm núm chờ quan mời ngồi đâu mới ngồi đó. Chúng tôi tuy lần đầu tiên đến nhà cụ Hường Hiển nhưng không có mấy điều đó vì cụ bà đã đón tiếp chúng tôi rất là niềm nở có vẻ kính trọng kẻ tu hành.
<br />
<br />     Qua cử chỉ cụ bà tuy lần đầu sơ ngộ, nhưng chúng tôi thấy ở cụ bà người phụ nữ Việt Nam đoan trang hiền đức, vừa lễ độ vừa nhã nhặn, không có cung cách nhà Quan, chúng tôi thầm nghĩ và tin rằng chắc cụ bà sẽ tu và đúng vậy, Hội Thánh Cao Đài chúng ta có một bậc nữ Hướng Đạo gương mẫu.
<br />
<br />     Tôi còn nhớ cụ bà nói : “quan tôi bẩm chất yếu, có bịnh hút thuốc phiện làm mất nhiều thì giờ, đêm nay định thức hầu đàn nên dậy trễ hơn mọi ngày” .
<br />
<br />     Trong lúc chờ cụ Hường thức dậy, anh Giáo Sư Châu nhắc anh Mười Tung lo bài trí lễ phẩm đủ Tam Bửu để khuya hành lễ. Riêng tôi quan sát khắp nhà không thấy gì ra vẻ nhà giàu như các cụ Huyện Thơ, cai Tổng Quý ở Sài Gòn, đặc biệt có quá nhiều bức hoành phi liễng đối chạm trổ, sơn son thếp vàng hoặc cẩn xà cừ sáng ngời, với những chữ nhỏ viết tuyệt đẹp. Đó là những tặng phẩm của các Tổng, Xã, Phủ,Huyện mừng tặng lúc cụ Hường tại chức là những thứ mà tôi trông ngắm mãi không thấy chán mắt. Ngoài ra còn có những tủ chè, sập gụ, trường kỷ chạm trỗ hoặc cẩn ốc xà cừ theo kiểu cổ kính, kiểu Bắc, kiểu Tàu rất qúi giá thuộc loại trang trí gia đình nhà quan nhà giàu Trung Bắc kỳ thời ấy.
<br />
<br />     Khoảng 5 giờ chiều cụ Hường Hiển tiếp chúng tôi niềm nở vui vẻ, hỏi thăm việc đạo trong Nam, việc lập đàn cơ và việc lịnh dạy truyền đạo Trung Bắc kỳ? Anh Giáo Sư Châu, Bang trình bày mọi vấn đề, đặc biệt Đạo Cao Đài trong Nam hàng Chức Sắc Hướng Đạo đa số quý vị trí thức, điền chủ, nghiệp chủ, Đốc Phủ Sứ và công tư chức v.v.. Đơn cử một số nhân vật có tên tuổi như Hội Đồng Thượng Nghị Viện Lê văn Trung, trí thức Nguyễn Phan Long, Đốc Phủ Ca, Đốc Phủ Lê Bá Trang … cốt ý để kích thích cụ Hường Hiển noi gương các ông ấy.
<br />
<br />     Đến giờ hành lễ qúi anh cúng nước, chúng tôi Phò Loan tịnh dưỡng ở ngoài, nhận thấy cụ Hường Hiển áo khăn chỉnh tề tỏ ra rất mực kỉnh thành, đặc biệt cụ vận áo rộng xanh trước có thêu Bố Tử màu và kim tuyến rực rỡ, lễ phục dùng để bái mạng ở Triều Đình. Cụ ngồi ở giữa sạp qùi tựa lên gối xếp 4 từng để viết sớ bằng chữ Nho. Viết xong chính tay cụ cho sớ vào phong bì đến trước Thiên Bàn mật khấn rồi cũng chính tay cụ đốt sớ.
<br />
<br />     Đàn cơ hôm ấy Đức Quan Thánh Đế Quân giáng trước dạy qua về vận hội nền đạo mới, tiếp đến Đức Cao Đài Thượng Đế giáng dạy cụ Lê Trí Hiển về đời cụ trải qua những bước thăng trầm thành bại, lẽ tất nhiên, bởi tiền căn của cụ đến thế gian để giúp đời độ đời, làm chứng cho sứ mạng mới, nếu càng đuổi theo danh cao vị trọng sự nghiệp kinh dinh, thì càng đưa đến sự thất bại ê chề khuyên cụ hãy tĩnh ngộ điều đó. Nay may duyên Thượng Đế đến mở Đạo tận độ chúng sanh hãy xả thân nhận lãnh sứ mạng hành đạo lập nên công nghiệp với đời, Thượng Đế sẽ dành cho nhà này nhiều ơn phước; tiếp theo bài trường thiên dài nói về đời cụ và dạy gia đình có hầu đàn.
<br />
<br />     Đàn cơ hôm ấy cụ Hưởng Hiển không dấu được nổi bùi ngùi cảm động, lúc Đức Cao Đài phán dạy, như nhắc lại một quá trình đời cụ mà chỉ có tâm sự cụ mới thấu rõ, cụ Hường tỏ ra khâm phục nhưng việc nhập đạo thì phải còn chờ thời gian suy tính .
<br />
<br />     Tuy chưa chính thức nhập đạo nhưng từ hôm ấy cụ bà và cả gia đình vẫn giữ chay trường dốc lòng tin đạo. Cụ Hường thì cũng thành tâm xin Thiêng Liêng cho được lập đàn cơ ở nhà cụ để phổ độ nhân sinh. Vì vậy mà nhà cụ Hường Hiển từ đó vẫn thường hay có đàn cơ dạy đạo, nhờ vậy một số những thành phần khá giả thân hào, Tổng, Lý cũng bớt sợ sệt lần hồi gia nhập đạo.</font>
 

nguoihocDao

New member
<font color=RED><strong>12/. ANH GIÁO SƯ NGUYỄN QUANG CHÂU
<br /> VỚI THÁNH TỊNH THANH QUANG :</strong></font>
<br />
<br />     <font color=BLUE>Anh Nguyễn Quang Châu một trong những vị Hướng Đạo trẻ có công nghiệp lớn trong công cuộc truyền đạo Trung Kỳ, tưởng cũng nên ghi lại một vài nét chính quá trình đời anh.
<br />
<br />      Anh Nguyễn Quang Châu trưởng nam của cụ Chánh Tổng Nguyễn Duy Trinh và cụ bà Phan Thị Vân (thường gọi cụ Chánh Diệm), quê làng Điện Thành La Kham một làng trong vùng đất Gò Nổi được nổi tiếng văn vật Quảng Nam. Anh học xong bậc tiểu học, đậu bằng tiểu học (Primaire) chuẩn bị lên Trung Học chẳng may bị gia biến, cụ Chánh Tổng qua đời anh đành phải ở nhà giúp mẹ, trông em gánh vác việc gia đình. Vì lúc bấy giờ muốn học Trung Học phải ra Huế nên tất cả thanh niên xứ Quảng muốn lên Trung Học, chỉ Trung Học thôi cũng phải có đủ 2 điều kiện tất yếu : rảnh việc nhà, đủ tài chính, không phải nói đến hiếu học và thông minh.
<br />
<br />     Với cái tuổi thanh niên hiếu động, anh lại là một thanh niên tuấn tú hoạt bát có kiến thức có tinh thần cầu tiến, lẽ đáng anh phải dấn thân vào một trong hai môi trường : hoặc làm thương mãi, công nghệ bán tự động, nghề dệt vải, hàng tơ lụa, dệt tussor chan tung ….. bán ra khắp nước cả Cao Miên, là nghề đang phát triển mạnh vùng Gò Nổi Quảng Nam và cũng là ngành công nghệ nổi tiếng nhất nước ta hồi ấy, để có dịp ra Bắc vào Nam biết thêm việc năm châu bốn bể. Hoặc anh phải dấn thân vào các phong trào đấu tranh chống chính sách đô hộ của người Pháp, chống lại sự hủ hóa của Quan lại Triều đình Huế nuôi dưỡng. Vì Quảng Nam là nơi liên tục xảy ra những phong trào chống Pháp mãnh liệt, không kể những ảnh hưởng xa xôi như việc Hoàng Diệu tử tiết theo Hà Thành, Nguyễn Duy Hiệu chết theo Cần Vương, Trần Quý Cáp, Châu Thơ Đồng chết vì dân biến khất sưu 1908 mà chỉ kể những ảnh hưởng gần phong trào khai trí trị sinh hô hào mở trường học, hội buôn, cổ vũ thanh niên xuất dương du học của cụ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đến các cụ Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thành Tài bị lên đoạn đầu đài vì cuộc khởi nghĩa năm 1916 cùng vua Duy Tân, tiếp đến đám tang cụ Phan Châu Trinh năm 1926 chấn động khắp nước. Đó là những nhân vật xuất thân từ Ngũ Hành Sơn Quảng Nam gây ảnh hưởng trực tiếp cho người thanh niên xứ Quảng không ít.
<br />
<br />     Anh lại chọn cho anh một đường hướng thứ ba, đường hướng tinh thần văn hóa và đạo đức, chính con đường mà phái trẻ đã kết án : “Yếm thế tiêu cực” con đường của những kẻ tuổi già rổi rảnh việc đời.
<br />
<br />     Không rõ nguyên nhân nào đã thúc đẩy anh hâm mộ con đường ấy và chọn cho mình con đường ấy? Phải chăng vì cụ Chánh Tổng thân sinh anh mất sớm mới 44 tuổi, mối xúc động trực tiếp bắt anh nghĩ đến kiếp vô thường của con người. Dầu cho bậc Đế Vương, khanh tướng, chí sĩ anh hùng cũng không qua công lệ ấy? Phải chăng cùng làng anh có Bác sĩ Lê Đình Thám một trong những lãnh tụ phong trào “Chấn Hưng Phật Giáo” có nghĩa là chấn hưng đạo đức đã đưa kinh sách, tư tưởng đạo Phật đến cho anh ?
<br />
<br />     Đến lúc cùng hành đạo thỉnh thoảng anh kể lại đời anh cho chúng tôi nghe, tôi còn nhớ một số điểm chính : thời gian từ cụ Chánh Tổng mất, anh như thất vọng, tương lai mờ mịt với một nổi buồn thảm thiết, ngoài việc giúp đỡ phần nào gia đình anh chuyên tâm đọc nhiều sách vỡ báo chí, nhất là loại sách về Đạo học như Niết Bàn Tạp Chí của Thông Thiên Học Sài gòn, Từ Bi Âm của Hội Phật Học Nam kỳ, Viên Âm của Hội Phật Học Trung Kỳ về sau cả Tạp Chí Đuốc Tuệ của Hội Phật Học Bắc Kỳ. Câu chuyện Thái Tử Tất Đạt Đa bỏ Ngai Vàng điện ngọc đi tu …. Đó là câu chuyện giải tỏa được nổi buồn nản của anh và đốt lên cho anh một niềm tin đầy nghị lực .
<br />
<br />     Từ hoàn cảnh đến ảnh hưởng báo chí sách vỡ, dẫn lần anh đến ham mê Đạo, năm anh 18 tuổi không nhớ duyên do nào đưa anh đến xin thọ giáo Đạo Tam Giáo Minh Sư với Ngài Lão sư Trần Vận Định thường gọi ông lão Đương làng Quảng Đợi, phủ Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
<br />
<br />     Ngài Lão Sư Trần Vận Định là một trong hàng đệ tử cao cấp của Đức Thái Lão Sư Trần Đạo Quang và Ngài Trần Đạo Quang đã tuân mệnh Đức Cao Đài Thượng Đế qui hiệp về với Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, được Đức Thượng Đế sắc phong phẩm vị Ngọc Chưởng Pháp, một phẩm vị cao tột trừ một phẩm Giáo Tông trong Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đầu tiên 1926 .
<br />
<br />     Anh Nguyễn Quang Châu thọ giáo theo đạo Tam Giáo Minh Sư bắt đầu từ cầu Hộ Đạo đến cầu Sám, anh đã phát nguyện trường trai tuyệt dục giữ giới thượng thừa, rồi xin cầu lên Nhất Bộ Nhị Bộ, năm ấy anh chuẩn bị cầu Tam Bộ tức là cầu Chân Viên để chuẩn bị vào hàng Thiên Ân .
<br />
<br />     Đường lối tu theo đạo Tam Giáo Ninh Sư (chính là Tiên Thiên Đại Đạo) vừa hành đạo lập công vừa tinh luyện nuôi dưởng Tinh, Khí, Thần theo Tiên gia, lấy việc trường chay giữ giới, lập công đức bằng cách hành hóa tiếp tăng độ chúng làm phúc, bố thí phóng sanh, ấn thơ trợ đạo, làm tiêu chuẩn tiến tu. Ngoài sinh hoạt thường lệ đó anh còn là một thanh niên có tinh thần cầu tiến như đã nói trên, anh tìm học rộng thêm ở các kinh sách Phật, anh cũng chịu khó đọc nhiều sách nói về tu luyện cả sách của Nguyễn Kim Muôn, tìm thấy ở tu sĩ nầy những điều muốn cải tiến. Nhưng chừng đọc đến : “Phật Giáo Tân Thanh Niên” của Thiên Chiếu kích thích mạnh tinh thần, anh muốn tìm một chân trời mới.
<br />
<br />     Trong giới tu hành có được một thanh niên đồng chơn xuất gia mọi người đều qúi trọng, huống một thanh niên tuấn tú hoạt bát như anh càng được Ngài Lão Sư Đương và toàn bổn Đạo trọng nể, mọi việc tiếp xúc giảng giải với bổn đạo hầu như anh được lãnh hết nhờ vậy mà giới bổn đạo Minh Sư đệ tử Ngài Lão Đương hoặc liên hệ đều mến phục anh.
<br />
<br />      Chính cũng nhờ vậy về sau anh qui hiệp về Đạo Cao Đài đã dẫn theo một số bổn đạo khá đông, nên thời gian phổ độ 5 tháng đã quy tụ được 3,4 trăm đạo hữu. Nay thiết lập thêm đàn cơ tại nhà cụ Lê Trí Hiển càng tạo được thêm thanh thế bên ngoài.
<br />
<br />      Cơ Đạo trên đà phát triển cần có một Thánh Sở đàng hoàng, dầu là nhà tranh vách tre. Tháng 4 năm Ất Hợi 1935 anh hội ý với chúng tôi và xin cụ thân mẫu anh tạo tác một Thánh Tịnh Thanh Quang mới, ngôi nhà lớn hiến cúng lâu nay dời sang một bên để làm nơi tiếp rước bổn đạo và hội họp giảng bàn đạo lý.
<br />
<br />      Cụ bà thân mẫu anh và gia đình tán thành, nhưng việc tạo tác Thánh Tịnh Thanh Quang lúc này thật là khó, vì gia đình anh không phải khá giả, từ cụ Chánh Tổng mất tiếp đến anh đi tu mấy năm, phần kinh tế gia đình ngưng trệ, phần khách tình bổn đạo phải tiếp độ nên tiêu pha nhiều mà sinh lợi rất ít, mấy năm sau anh phải đi dạy học để giúp đở phần nào cho gia đình. Nhưng từ hôm anh qui hiệp về với nền đạo mới Cao Đài nhận lãnh sứ mệnh truyền đạo với chúng tôi, anh bỏ cả dạy học chuyên việc hành đạo, nhà anh khách tình lại đông hơn, riêng chúng tôi cũng đã có 6,7 người thường trực chưa nói kẻ tới người lui, các em anh bận việc tiếp khách việc đồng án trồng dâu nuôi tằm đành phải nghĩ lần, nên mức kinh tế gia đình càng đi lần đến chổ chật vật.
<br />
<br />      Nhưng việc đáng làm thì anh quyết định làm, anh xin phép cụ bà Chánh đốn một vài cây mít trong vườn làm cột, anh chạy xoay mượn ít chục đồng bạc bỏ ra mua gổ, mua tranh tre kêu thợ khởi công, thấy vậy có một số đạo tâm hỷ cúng ít tài chánh, có người đến xin làm công quả giúp anh. Thế là công cuộc tạo tác cứ tiến hành, còn anh và chúng tôi tuân Thánh Lệnh cứ tiếp tục đi lập đàn cơ phổ độ.
<br />Việc phổ độ lúc bấy giờ có mấy công tác chính, ngoài việc huyền diệu Thiêng Liêng lập đàn cơ Thần Tiên giáng dạy, thì còn các việc rất gần đọc Thánh Giáo giảng đạo, cúng đám giổ đưa đám tang cả những đám cầu an cầu bịnh, nhất là việc cúng đám tang và đám giổ thu phục được nhiều bổn đạo nhất.
<br />
<br />      Hành trình phổ độ thời ấy có lắm chuyện vui mà cũng có lắm nỗi buồn, vui không kể hết được và buồn cũng lắm chua cay, sẽ dành ở một mục đoạn sau để các bạn đọc giải trí và cũng để ghi nhận những sinh hoạt còn nhiều ấu trĩ của chúng tôi. Ở đây xin ghi lại câu chuyện buồn cười tưởng cũng không ai ngờ. Hôm ấy đầu tháng tư ta Thánh Tịnh Thanh Quang đang khởi công, chúng tôi đi lập đàn cơ tại nhà ông Cửu Xoa ở Ô Gia, chúng tôi đi rất sớm đến đò Khánh Vân độ 8 giờ mai, nhân ngồi ở bãi cát chờ đò xem lại có đủ tiền đò không, thì ra tất cả chúng tôi góp hết chỉ có mấy xu thế là không đủ vì chúng tôi cả đoàn 10 người. Các anh nhìn nhau cười mới bày ra cách: các anh tắm rồi lội luôn qua sông để cho mấy chú bé không biết lội chúng tôi Long, Qui, Lân thêm anh Chuyên theo nữa đi đò để mang hành lý, thế là còn thừa tiền.
<br />
<br />      Tuy một cử chỉ nhỏ nhặt như thế song để nói lên chúng tôi thật là nghèo, đành rằng 10 xu không đến nổi không có, nhưng buồn cười là cả 10 người không có cả 10 xu. Có như thế mới biết được chí nhiệt thành tài tháo vát xông pha của qúi vị Hường Đạo và chính hôm ấy tôi còn phục tài lội sông của qúi anh, nhất là anh Giáo Châu, Niên, Bang và Hổ.
<br />
<br />      Thánh Tịnh Thanh Quang tạo tác bằng sườn gổ lợp tranh đến thượng tuần tháng 5 là hoàn tất, được lịnh Thiêng Liêng dạy ngày rằm tháng 5 Trấn Thần An Vị chuẩn bị cho ngày 30 mồng 1-6 Ất Hợi 1935 cử hành trọng thể lễ Khánh Thành.
<br />
<br />      Lần đầu tiên ở Quảng Nam và có lẽ cũng là cả Trung Kỳ mới có một Thánh Sở Cao Đài tổ chức khánh thành, tuy dưới chế độ khắt khe nhất là đối với Đạo Cao Đài, nhưng nhờ chính quyền địa phương Tổng, Lý bỏ lơ nên buổi lễ tổ chức khá trọng thể, tuy hình thúc bên ngoài có đơn giản nhưng đặc biệt hai đêm người đến dự lễ khá đông, cụ bà Hường Hiển tuy gia đình chưa nhập đạo nhưng cụ bà đến lễ cả ngày đêm tạo được sự uy tín cho Nữ Phái.
<br />
<br />      Lễ khánh thành Thánh Tịnh Thanh Quang hai đêm 30 và mồng 1 đều thiết lập đàn cơ, Thần Tiên giáng dạy đạo phổ độ những kẻ thiện căn và cũng điểm danh ban ơn cho những đạo tâm đóng góp công quả.
<br />
<br />     Dịp này anh Giáo Sư Nguyễn Quang Châu có mời quí vị đạo tâm Minh Sư, quí vị thân hào nhân sĩ đến dự, gây đuợc thiện cảm sâu rộng và cũng để tập cho bỗn đạo sư tụ họp quen lần, nhờ vậy mà sau lể khánh thành này một số nhập đạo khá đông.
<br />
<br />     Mặc dù được chính quyền địa phương bỏ lơ không hỏi hang khó dễ, nhưng số ngưòi dự lễ mấy ngày quá đông, một phần bổn đạo một phần người đi xem, vì kinh cúng Đạo Cao Đài rất du dương dễ truyền cảm, nhất là đêm nào cũng có thuyết đạo đọc Thánh Ngôn lập đàn cơ, mọi người ai cũng muốn được xem được nghe chen lấn nhau tạo nên cành náo nhiệt, có người mật báo đến Phủ. Tri Phủ Điện Bàn lúc ấy nhớ như ông Nguyễn Đình Bá, ông này bản chất cũng hiền lành không phải người khó dễ, nhưng vì trách nhiệm nên phải cho câu quản hợp với Chánh Tổng Phú Khương sáng ngày mồng hai lên lập biên bản nộp về Phủ, sau đòi hai anh Nguyễn Quang Châu và Trần công Bang đến Phủ hỏi cung thêm và kết cuộc cho biết bị phạt vi cảnh mỗi người hai tháng tù treo về tội tập hợp cúng kiến bật hợp pháp.
<br />
<br />      Như vậy kể cũng là nhỏ, không khép vào tội tụ tập phi pháp truyền bá Đạo Cao Đài thì phải nặng hơn. Dầu vậy đây là lần đầu tiên hai anh nhận lãnh một án tù treo vì Đạo, phải chăng hợp với lời Thánh Giáo dạy về Trung truyền đạo có câu :
<br />                                “Ất con còn mắc phải tai nàn.
<br />                                 Thanh Từ trổ mặt Quang Quang” </font>
 

nguoihocDao

New member
<font color=RED><strong>13/. TỨ LINH RẼ CÁNH-TRẦN QUANG CHÂU NHẬN LÃNH SỨ MẠNG:</strong></font>
<br />
<br />     Đầu tháng tư năm Ất Hợi, sau kỳ đàn cơ tại nhà ông Cửu Xoa ở Ô Gia về, Đồng Tử Kim Quy phát bệnh, ban đầu chỉ cảm sốt chữa thuốc không khỏi, hai tuần sau đỏ hừng khắp cả ngưòi trạng thái bệnh ban nóng, các thầy thuốc chữa ban cũng không thấy bớt, độ tháng sau người hơi phù lên, từ từ lớp da ngoài rạn nứt chảy nưóc ra khắp cả người cứ như thế rồi lan lỡ lần ra, thị tựa đỏ như chính bệnh đơn trông thật thảm thương .
<br />
<br />     Từ đó Đồng Tử Kim Quy không còn chấp cơ được nữa và cũng không biết đến bao giờ mới tiếp tục hành sự. Quy không chấp cơ Lân chỉ còn phụ Độc Giả, bây giờ việc đàn cơ chỉ còn tôi và Bạch Phụng.
<br />
<br />     Dầu vậy gia đình của Bạch Phụng gặp quá nhiều biến cố, mới chín tháng trời hai anh mất, mẹ mất, Kim Quy đương phát bệnh chưa khỏi, tiếp đến người chị dâu Mai Thị Lệ (vợ anh Tư Bặc) cũng từ trần, dầu anh can đảm bao nhiêu hăng hái vì nghĩa vụ bao nhiêu, cũng không gạt qua được nỗi đau buồn tê tái, có khi chán nản đến muốn buông tay. Tuy nhiên khi trí tuệ đã tỉnh dậy, ánh bình minh đã lên, mây mù bị xé tan anh gạt nước mắt lên đường làm sứ mạng.
<br />
<br />     Sau hai đêm 30 và mồmg 1- 6 At Hợi 1935 cùng tôi chấp cơ nhân dịp khánh thành Thanh Tịnh Thanh Quang, ngày mồng hai anh bận chút công việc nhà phải về trước, lúc bấy giờ mùa hè tiết trời nóng nực sau công tác lao động giúp gia đình, anh đi tắm sông về bị trúng nước phát bệnh, sáng mồng bốn chúng tôi còn ở Thanh Quang qúi anh Giáo Sư Châu, Bang bị Phủ Điện Bàn đòi chưa về thì tin từ gia đình báo lên Bạch Phụng đã mất. Chúng tôi sững sốt không nói ra lời và biết nói gì ?
<br />
<br />     Chúng tôi không muốn về Bất Nhị thăm anh! Bạch Phụng đâu còn nữa Bạch Phụng đã mất rồi, Kim Quy mắc bệnh trầm kha bao giờ mới khỏi? hay là cũng sẽ không khỏi. Sứ mạng của Tứ Linh đồng tử “ Phổ Truyền Chơn Đạo” khai giáo Trung Bắc Kỳ là gì ? xin ơn Thầy soi dẫn cho con.
<br />
<br />     Chúng tôi và bạn Trần Quang Châu lập tức nhờ người báo tin cho anh Nguyễn Đán ở Phú Bông hay, chúng tôi thẳng về Bất Nhị để gặp di hài Bạch Phụng lần cuối cùng và cũng để lo việc tang lễ anh cho trọn nghĩa trọn tình, trót đã hẹn nhau “cộng đồng sinh tử” .
<br />
<br />     Chiều hôm ấy qúi anh Nguyễn Quang Châu, Trầnn công Bang, Nguyễn Đán chúng tôi đủ mặt tại nhà cụ Xã Xước Thánh Thất Từ Quang và có một số đông qúi vị đạo tâm tham dự bàn việc tang lễ cho anh, tuy đơn giản nhưng với tinh thần một vị Huớng Đạo, vì gia đình anh Hương Bồn (Lê văn Cưu anh ruột Bạch Phụng) lúc ấy thật là bối rối không còn tính toán gì được.
<br />
<br />     Tang lễ Bạch Phụng xong, chẳng riêng gia đình anh dày vò đau xót mà tất cả chúng tôi và bổn đạo cũng không ngăn đuợc nỗi ngậm ngùi cảm xúc, nhưng qúi anh Châu, Bang, Đán cố giữ lại sự bình tĩnh và nghĩ về sứ mạng trọng đại.
<br />
<br />     Đêm mồng 6 tại Thánh Thất Từ Quang nhà anh Trần công Bang tôi chấp bút , Ngọc Quế Chi Lan Thần về chĩ vẽ cho Lân phò âm tạm với tôi để Thiêng Liêng dạy việc. Đàn cơ đêm ấy Đức Lý Giáo Tông giáng dạy mọi việc đã an bài, người Hướng Đạo đừng vì những thử thách cỏn con mà đã vội e dè. Con người sứ mạng chỉ quyết tâm làm sao đạt đến hoàn thành sứ mạng hỏi chi đến những bước lộ trình? Đường nào lại chẳng gồ ghề, sứ mệnh càng trọng đại thì lộ trình càng xa xăm, mà lộ trình càng xa xăm thì gồ ghề càng gặp nhiều cái lẽ tất nhiên là vậy.
<br />
<br />     Dầu vậy Ngài cũng tỏ lòng ưu ái cùng các vị Hướng Đạo, Ngài có lời an ủi gia đình anh Lê văn Cưu Ngài cầu xin ơn Thầy ban phước lành cho gia đình này và báo tin Bạch Phụng được trở lại Tiên Đồng, đúng 12 ngày sau sẽ được phép về cơ và cuối cùng dạy các anh Bang, Khai ngày14-6 này thiết đàn cơ tại Thánh Tịnh Thanh Quang Đức Cao Đài Thượng Đế đến truyền sứ mệnh. Tiếp đàn Ngài Lục My Chơn Thánh (anh Lê văn Liêm ) về khuyên giải gia đình.
<br />
<br />     Tuân lệnh Lý Giáo Tông đêm 13 rạng 14-6 Ất Hợi chúng tôi thiết lập đàn cơ tại Thánh Tịnh Thanh Quang. Đức Cao Đài Thượng Đế giá lâm Đọc lại Thánh Ngôn (tiếc rằng các Thánh Giáo này nay không còn ) càng thấy đêm ấy Ngài rất buồn, thị hiện nhân cách một đấng Từ Phụ, đại từ đại bi, đại độ ưu ái đàn con trần thế đang gặp thử thách đầu tiên trên đường sứ mạng, tôi còn nhớ Ngài phán dạy : “Việc phải đến hôm nay cho các con Thầy đã dạy từ trước và Lý Giáo Tông cũng đã biện minh rõ rồi. Thầy rất buồn thương cho số phận Đồng Tử Tứ Linh, nhiệm vụ chỉ có bấy nhiêu, sứ mạng “Trung Hưng Chánh Pháp” Phổ Truyền Chơn Đạo một sứ mạng trọng đại vĩnh cửu, các con còn phải kế tiềp nhau đi mãi đưa Vạn Linh đến chỗ Cao Đài.
<br />“Thầy nói để các con biết rằng : con đường sứ mạng xa xăm diệu vợi ấy ngày nay mới là giai đoạn mở đầu, Thiên Sử Đạo bi hùng các con nối tiếp nhau ghi chép, ngày nay các con mới chép những dòng sơ khởi! Thầy muốn nói thế để các con thấy rằng đường còn xa gánh còn nặng gian lao khốn khổ còn nhiều, các con một dạ tin Thầy quên mình vì đạo vì nhân sinh, luôn có Thầy dắt dìu che chở.
<br />
<br />“Nay Bạch Phụng đã xong phận sự Phò Loan, trước Thầy đã dạy Trần Quang Châu trong đoàn sứ giả để thay cho Bạch Phụng ngày nay, vậy Thầy cho Trần Quang Châu con Đạo Hiệu “Bạch Hổ” để phù hợp với Thanh Long đảm đương sứ mạng, ấy cũng là tiền định con hiểu chưa?”
<br />
<br />     Sau cùng Đức Lý Giáo Tông giáng dạy anh Bang, Khai đêm rằm thiết lễ thọ mạng cho Bạch Hổ Hồng Thệ trước Bửu Điện Chí Tôn và trước bàn Ngũ Lôi đúng như nghi lễ Phò Loan để nhận lãnh sứ mạng và giữ bí pháp Hiệp Thiên Đài tiếp lập đàn cơ để Thiêng Liêng giáng dạy.
<br />
<br />
 

nguoihocDao

New member
      Tuân lệnh Lý Giáo Tông tại Thanh Quang đêm 14 rạng 15-6 Ất Hợi lễ Hồng Thệ cho Bạch Hổ xong, thiết lập đàn cơ Đức Lý Giáo Tông đến dạy từ đây Thanh Long, Bạch Hổ là cặp Phò Loan độc nhất có trọng trách tiếp nối sứ mạng của Tứ Linh Đồng Tử trong sứ mạng Phổ Truyền và Trung Hưng như Đức Chí Tôn đã phán dạy. Bạch Hổ phải ý thức trọng trách đó phải qùi hương luyện điển cho nhiều để cùng Thanh Long làm tròn phận sự và Ngài giao cho Nguyễn Thanh Chuyên nhiệm vụ Độc Giả để bộ phận Hiệp Thiên Đài được vẹn toàn. Nhân dịp thay đổi mới này Ngài bảo cho các Hướng Đạo và nhân sanh biết để sớm hoàn thành sứ mạng ứng với hoàn cảnh, từ truyền đạo Trung Kỳ để điều hành cơ đạo có Quan Thánh Đế quân lãnh nhiệm vụ Tổng Lý, nay Ngài trình tâu xin Thầy ủy thác cho Trần Hưng Đạo Vương giúp sức Quan Thánh Đế thay Ngài điều hành cơ đạo Trung Bắc Kỳ, từ đây sẽ tiếp xúc và tuân mạng Hưng Đạo Vương như đã tuân mạng Ngài, xong Đức Lý Giáo Tông thăng để hộ điển cho phép Bạch Phụng Tiên Đồng về cơ để có lời cáo lỗi các anh các bạn, nhất là Thanh Long vì mệnh Trời đã an bài đành giữa đường rẽ gánh, xin giả biệt các anh và mong Bạch Hổ hết lòng vì phận sự, Bạch Phụng xin mặc hộ âm phò ….Sau cùng gởi lời an ủi gia đình dặn dò Kim Quy cố vẹn giữ một lòng thủy chung chớ vì khổ đau mà quên sứ mạng vv….
<br />
<br />            Đàn cơ hai đêm ấy thật là huyền diệu, lời lẽ thật là thống thiết não nùng, nhất là lời dạy của Đức Cao Đài Thượng Đế đến lời giả biệt của Bạch Phụng. Tuy còn non nớt mộc mạc nhưng thâm thiết làm sao? Qúi anh Bang, Khai, Sơ và các vị hầu đàn đều ngậm ngùi ướt lệ. Tiếc rằng những bài Thánh Ngôn qúi giá ấy không còn giữ được để lưu niệm ngoài đời.
<br />
<br />            Đàn cơ xong bạn Thanh Chuyên Hồng Thệ nhận lãnh nhiệm vụ. Thế là bộ phận Hiệp Thiên Đài chúng tôi lúc ấy :
<br /> Phò Loan : Thanh Long, Bạch Hổ
<br />Độc Giả :       Nguyễn Thanh Chuyên
<br />Pháp Đàn, Điển ký vẫn như cũ
<br />Xích Lân phụ Độc Giả chờ Kim Qui khỏi bệnh.
<br />
<br />        Phần Kim Qui từ ngọa bệnh chẳng may phải bệnh trầm kha nan y, gia đình lâm vào cảnh sa sút nghèo túng, phần bao biến cố đau buồn dồn dập đưa đến cho nhà bạn, nay Bạch Phụng cũng mất bạn ngất người chỉ thốt được mấy tiếng nghẹn ngào “Sao Thầy không cho con chết thay cho Bạch Phụng” rồi ngất lịm đi, một hồi sau từ từ tỉnh lại. Kim Qui nằm một chổ không tỉnh lại không xê dịch được, nhìn cảnh nhà với chiếc quan tài Bạch Phụng bạn gào thét thảm thương, rồi im bặt cả đi không còn ai khóc nữa, nhà họ Lê đến đây đã đến lúc hết nuớc mắt không còn để khóc …
<br />
<br />        Anh Lục My Chơn Thánh về cơ khuyên giải, tin Bạch Phụng được thành Tiên Đồng cũng chưa đủ làm vơi bớt nổi buồn thảm thương của nhà họ Lê lúc ấy. Tội nghiệp cho Kim Qui đọc lời Bạch Phụng dặn khuyên bạn cũng vâng nghe, nhưng rồi không dấu được sự chán nãn tuyệt vọng. Bệnh tình thì không thuyên giảm ngày lại một tiến thêm, có đôi lần qúi anh bạch xin Thần Tiên cứu trị thì được Thiêng Liêng giải thích “Thời bệnh trị bằng thuốc, nghiệp trị bệnh bằng tâm, lấy đức tin chiến thắng ma nghiệp, lấy trí tuệ đoạn diệt não phiền”. Khuyên Kim Qui đừng để tâm thần rối loạn nhớ giữ lời Hồng Thệ trước kia sẽ được ơn cứu độ mà không cho thang thuốc nào cả.
<br />
<br />        Tội nghiệp cho Kim Qui cũng hiểu được điều đó nhưng dường như tinh thần nghị lực của một thiếu niên 17 tuổi đầu, chưa đủ gan lì để chịu đựng trước nghịch cảnh éo le, mấy lần Qui hỏi tôi : Anh có cách nào cứu em được không? Sao Thượng Đế không thương em? Câu hỏi của Kim Qui lòng tôi như dao cắt, nhưng tôi phải cố bình tỉnh nói lại với Qui : Thuốc chỉ có thể cứu bệnh làm sao cứu mạng? Nếu thuốc cứu được mạng thì tự Biển Thước đã làm cho mình lột võ sống đời. Xưa kia Nhan Hồi là bậc Á Thánh, Đức Khổng Tử rất qúi rất thương đành chỉ có khóc rống lên : “Thiên táng dư , Thiên táng dư” để nhìn xem Nhan Hồi bỏ cỏi đời vừa 31 tuổi, tôi khuyên Kim Qui hãy xem thường sự khổ đau sống chết con đường ai cũng trải qua, có chăng chỉ đáng tiếc là chúng ta không gần nhau mãi mãi để làm tròn sứ mạnh Thầy giao phó.
<br />
<br />        Nói với Kim Qui thời nói vậy chứ tâm trường tôi lúc ấy cũng là tâm trường của Kim Qui, bởi sinh là con người lúc sinh ly từ biệt ai lại chẳng đau buồn? Nhưng có cái đau buồn gì hơn cái đau buồn của người anh, người bạn đồng sinh tử, người thầy thuốc có chút lương tâm đành bó tay, tiếng rên than kêu cứu của người thân từ từ cho đến không còn tiếng kêu được nữa. Thật là bất nhẫn ?
<br />
<br />        Tình trạng của Đồng Tử Kim Qui vằn vặt trên giường bệnh 5 tháng trời, đến lúc sinh lực không còn chịu đựng được nữa. Ngày mồng 3-9 Ất Hợi 1935 Kim Qui mất, Xích Lân thất vọng muốn bỏ cuộc, tôi là kẻ đau buồn vô hạn ở lại nhìn xem rẻ gánh Tứ Linh ?
<br />
<br />        Phải chăng đây là việc Đức Cao Đài Thượng Đế đã căn dặn trước từ đàn cơ đêm 24-8 rạng ngày 25 và 15-9 Giáp Tuất, ngày lên đường ra Trung truyền đạo do Phò Loan Qui Lân chấp cơ :
<br />“ <strong>Long</strong> con hãy nặng phần trách nhiệm.
<br />   Bảng <strong>Qui, Lân, Phụng</strong>, nhắm rừng non.
<br />   Lời Thầy gắng nhớ nghe con ,
<br />   Dầu chi đi nữa cũng còn Thầy đây.”
<br />
<br />        Đó là miền trấn an khích lệ của chúng tôi. Nhưng dầu sao định mệnh có an bài thì trang Sử Đạo Trung Kỳ mở đầu cũng quá khắc khe.
<br />
<br />        Ở đây tưởng cũng cần ghi lại một vài nét chính về bạn Trần Quang Châu trước đã tóm lược, nay được Đức Cao Đài Thượng Đế ban trao cho hiệu Bạch Hổ và nhiệm vụ Phò Loan trong sứ mạng Trung Hưng . Bạn Trần Quang Châu con trai thứ của cụ Chánh Tổng đương chức Trần Hoán thường gọi là cụ Chánh Trí, quê làng Tư Phú cũng trong vùng đất Gò Nổi tỉnh Quảng Nam.
<br />
<br />        Gia đình cụ Chánh Tổng Trần Hoán mấy đời được tiếng là gia đình lễ giáo đạo nghĩa, chính gia đình họ Trần Công đã un đúc chí sĩ Trần Cao Vân cùng Vua Duy Tân khởi nghĩa năm 1916 và ông Trần Công Chương một chiến sĩ chống Pháp dũng cảm, chỉ huy cướp chính quyền tỉnh Quảng Nam (1916) bất thành, đốt trường Pháp Việt và giả câm 3 năm không nói một lời, không khai cho ai cả, về sau bị tù ở Lao Bảo can đảm đập lên đầu tên đề lao mấy cái bằng chiếc bao tời đựng rác để rồi kết liễu đời mình.
<br />
<br />             Thời phong kiến dưới chế độ cai trị Nam Triều ngày xưa, Chánh Tổng cũng là một quan chức có quyền ở tại địa phương, dân chúng làng xã nể sợ, ngay ở xứ Nam Kỳ thuộc địa nền hành chánh theo Pháp, thế mà Cai Tổng cũng là hạn quyền hành như các quan Phủ Huyện. Nhưng cụ Chánh Tổng Trần Hoán thì trái lại, một nhân sĩ đạo đức lễ nghĩa trung hậu hơn là một viên chức cai trị. Một vị Chánh Tổng mà bất cứ lúc nào giao tiếp với mọi người kể cả anh chị em nông dân cũng chấp tay xá lại đáp lễ, dầu lúc ngồi trên ngựa tay bận không chấp được thì cũng cuối đầu nghiêng mình để chào. Cụ được nổi tiếng là một ông Chánh Tổng hòa giải tất cả các vụ tranh chấp kiện tụng, dầu khó khăn đến đâu mà đã đến cụ thì cụ áp dụng sách lược biện minh phải quấy rồi hòa giải : thế mà cụ giải quyết nhiều vụ đáng phục, có những mẫu truyện đáng được chép lại để làm gương cho đời, nhưng tiếc rằng phạm vi ở đây không thể ghi hết được xin gác lại trên địa hạt khác.
<br />Nhờ bản chất đạo đức gia đình vốn sẳn có của cụ Chánh Tổng Trần Hoán đã un đúc bạn Trần Quang Châu trở thành một tay sứ mạng trong đoàn truyền đạo Trung Kỳ. Về sau người con gái út của người em tên Trần Thị Bi tức Phò Loan Tuyết Hải cũng góp phần xây dựng cơ đạo. Phần cụ thì lúc tại chức (đương quyền Chánh Tổng) hết lòng giúp đở chúng tôi tránh né chánh quyền. Lúc về già cụ nhập Đạo Cao Đài tu cầu giải thoát cho đến ngày chung cuộc. Thật vậy một gia đình có công Sử Đạo Cao Đài đáng ghi chép như vậy.
<br />
<br />        Bạn Trần Quang Châu nhờ truyền thống , nhờ ảnh hưởng giáo dục gia đình nên bản chất bạn đã in khuôn bản chất trung hậu đạo đức của cụ Chánh Tổng họ Trần. Bạn được Đức Cao Đài Thượng Đế thu nạp vào đoàn sứ giả Trung Kỳ, ban đầu với nhiện vụ tạm Độc Giả và Thiêng Liêng cho bạn 4 câu thơ điểm danh coi là tiền định.
<br />       “<strong>Châu</strong> độc giả lo tròn độc giả.
<br />        Phận sự con Thầy đã định phòng.
<br />        Bao giờ <strong>Hổ</strong> hội cùng <strong>Long</strong>,
<br />        Bên ngoài xếp đặt bên trong an bài.”
<br />
<br />        Thật có ai biết được Trần Quang Châu sẽ là Bạch Hổ? Có ai ngờ Phò Loan Long Phụng sẽ trở thành Long Hổ, chừng sự việc xảy ra Bạch Phụng đăng Tiên để Bạch Hổ vào thay thế, thành ra sứ mạng Tứ Linh phổ truyền chơn đạo Trung Kỳ đến thời Thanh Long Bạch Hổ thì lại tiếp nối sứ mạng Tứ Linh trong sứ mạng Trung Hưng thật là mầu nhiệm.
<br />
<br />        Từ bạn Bạch Hổ hợp tác với tôi rất là thuận, chẳng những thuận về phần tiếp điển âm dương đồng đều mà phần xử thế với nhau cũng rất là tương đắc. Nhờ vậy từ đó về sau các đàn cơ chúng tôi hành sự ngày càng minh nghĩa là tiếp trọn Thiên điển, nên những đàn cơ ấy được đăng nhiều vào tạp chí “Tiên Thiên Tuyên Bố” của phái Tiên Thiên, từ đó phò Loan Thanh Long, Bạch Hổ được nổi tiếng khắp giới Cao Đài miền nam.
<br />
<br />        Đoàn truyền giáo chúng tôi bây giờ còn có một cặp Phò Loan nhưng việc lập đàn cơ lại nhiều hơn, bốn nơi Thanh Quang, Từ Quang, nhà cụ Hường Hiển, nhà ông Cửu Xoa không còn giới hạn trong những ngày đàn thường lệ, có lịnh Thần Tiên thì lập, nên trung bình mỗi tháng từ 8 đến 12 lần lập đàn và phần nhiều Đức Quan Thánh Đế Quân và Trần Hưng Đạo Đại Vương giáng dạy.
<br />
<br />        Chúng tôi bây giờ coi việc phổ độ được một người rất là qúi, bất cứ nơi nào thành tâm mời thiết đàn cúng giỗ, cúng ma chay gì đều mượn cơ hội để phổ độ, trong đoàn chúng tôi thì mỗi người có một vai chính sở trường, anh Giáo Châu vừa là thầy cúng giỏi thuyết đạo hay, anh Giáo Sư Trần công Bang hành pháp và đọc Thanh giáo rất hấp dẫn, anh Nguyễn Đán chủ trì trật tự, bởi lúc nào có anh Hương Niên thì kẻ khuấy phá không dám héo lánh, còn 4 chúng tôi Phò Loan, Điển ký, Độc Giả, nhưng hai bạn Bạch Hổ, Thanh Chuyên đọc kinh cúng đám cũng thạo lắm, chỉ Bạch Hổ cúng cô hồn hay chọc cười.
<br />
<br />            Để thấy sự phổ độ lúc ấy là qúi, lần nọ chúng tôi định đi phổ độ miệt Ba Hòa, khi đi ngang Thanh Long ghé thăm nhà bà Đáng (thân mẫu chị Ba Giáng) bà mời ở lại thuyết đạo và thiết Thiên Bàn cho gia đình bà nhập môn, chúng tôi cả đoàn ở lại đọc Thánh Giáo thuyết đạo cả ngày và cả đêm, ngày mai mới ra đi.
<br />
<br />            Trường hợp như thế nhiều lắm, chúng tôi càng hoạt động tất nhiên còn có nhiều người nhập đạo, thì Phủ Huyện cũng bắt đầu mật lịnh cho Chánh Tổng, Lý Trưởng đề phòng theo dõi. Nhưng những mật lịnh ấy chúng tôi đều biết trước bởi cụ Chánh Tổng Đa Hòa Trần Hoán đã cho hay, có lần Lý Trưởng nọ mật báo với cụ Chánh Tổng mật trình với phủ Đạo Cao Đài hội họp, cụ bảo Lý Trưởng anh theo dõi thử họ có làm gì khác hơn cúng kinh giảng kinh không? Rồi cụ nói tiếp đạo ấy không rõ ra làm sao mà tôi có thằng con nó cũng say mê, tôi để ý xem thì thấy nó ăn chay tu hành chân thật chẳng có làm gì và nghe như Quan Hường Hiển cũng nhập Đạo Cao Đài ấy! Câu nói cụ Chánh Tổng rất là khéo vừa đúng tư cách viên chức nhà nước, vừa nhắn khéo Lý Trưởng anh coi chừng trong nhóm đó có con tôi và có Quan Hường Hiển.
<br />
<br />             Nhưng từ khi Phủ Huyện biết được Chánh Tổng Đa Hòa có con theo Đạo Cao Đài thì những tin mật về Cao Đài không giao cho cụ nữa mà giao thẳng cho phó tổng hoặc Lý Trưởng.
 

nguoihocDao

New member
<font color=RED><strong>14/. MỘT GIA ĐÌNH HY SINH VÌ ĐẠO:</strong></font>
<br />                   Tôi chép thiên hồi ký này có bổn phận phải ghi chép lại nổi đau buồn thảm thiết với sự hy sinh cao cả vì tin thầy tin đạo của gia đình bà Mục Cưu và tôi nghĩ rằng sau này có bạn nào viết sử Đạo Cao Đài cũng không thể không ghi chép những hy sinh cho gia đình này, tuy không anh dũng như những gia đình Tử Đạo nhưng cũng hy sinh bao tâm tư huyết hản tài sản tính mạng, mở đường cho công cuộc truyền bá Đạo Cao Đài ra Trung Bắc Kỳ.
<br />
<br />                   Cụ bà Mục Cưu, đoạn đầu đã nói chính tên cụ là Trần Thị Cải và cụ ông Lê văn Hội. Ông bà sinh được 6 người con 5 trai và 1 gái, các anh chị : Lê văn Cưu (Hương Bồn), Lê văn Liêm (độc thân), Lê văn Bặc (có vợ Mai Thị Lê), Lê Thị Niệm (chồng là Điển Ký Thân Đức Giang), Lê văn Phụng (Bạch Phụng ), Lê văn Qui (Kim Qui). Cụ ông Lê văn Hội qua đời sớm nên cụ bà là một góa phụ thường gọi là Bà Mục Cưu.
<br />
<br />                   Gia đình bà Mục Cưu và gia đìng ông Xã Xước tức cụ Trần công Trác thời ấy sớm được coi là hai gia đình tiến bộ vùng quê làng Bất Nhị tỉnh Quảng Nam, nhờ tìm đọc sách vở báo chí từ bên ngoài ảnh hưởng phong trào tân khai hóa dân trí do cụ Phan Châu Trinh nên câu nói: “đừng bạo động chứ, bạo động thì chết, đừng vong ngoại chứ, vong ngoại là ngu. Điều qúi báu nhất tôi kính tặng đồng bào chỉ có học” của cụ Phan Châu Trinh. Tôi nghe hai nhà này đã đọc đi đọc lại từ lâu, vì vậy nếu không sớm gặp Đạo Cao Đài thì hai gia đình này cũng dính dáng vào các phong trào chống Pháp !
<br />
<br />                   Hơn nữa, cụ bà Mục Cưu một thôn phụ thuộc lớp người xưa có những đặc sắc đáng ghi nhận, bà không học, sách báo nhờ các con đọc cho nghe nhưng bà rất mau hiểu giỏi nhớ, bà thuộc nằm lòng các thơ truyện Kiều, thơ Lục Vân Tiên, Cung Oán, Phạm Công Cúc Hoa… đáng phục hơn bà nhớ nhiều truyện Tàu, nhớ đến độ câu chuyện giao tế hằng ngày đôi lúc bà khéo áp dụng mẩu chuyện Tàu xưa vào để câu chuyện thêm sống động và hấp dẫn.
<br />
<br />                   Qua sự hướng dẫn của hai anh Trần công Bang, Lê văn Liêm cuối năm Nhâm Thân 1932 gia đình cụ bà và cụ Xã Xước phát nguyện gia nhập Đạo Cao Đài đầu tiên tại Quảng Nam và chính từ hai gia đình này về sau mở đường truyền bá nền đạo mới Đạo Cao Đài ra Trung Bắc Kỳ.
<br />Gia đình bà Mục Cưu và ông Xã Xước vốn sẳn có tinh thần cảo tiến chớm nở, tiếp thu được các Thánh Ngôn Thánh Giáo Đạo Cao Đài lời lẽ hùng hồn cổ xuý tinh thần chấn hưng văn hóa đạo đức dân tộc, kích thích tinh thần bồng bột thanh niên càng tin đạo mãnh liệt như đã kể qua, nên vừa nhập đạo thời gian ngắn cả nhà cụ bà Mục Cưu phát nguyện ăn chay trường (trừ hai chị Hương Bồn và Mai Thị Lê còn chay kỳ) còn muốn xả thân hành đạo.
<br />
<br />                   Trước tinh thần mộ đạo hăng say cao độ, gặp phải sự ngăn cấm đạo của Chính Quyền và một phần cũng tin theo cơ tận thế sắp đến, theo các lới tiên tri ở Kinh Sám nay được xác nhận lại, nên gia đình bà Mục Cưu nghĩ đến việc bán hết gia sản (một gia đình khá giả) dọn vào Sài Gòn cho dễ bề tu trì và hành đạo, chỉ để lại ngôi nhà nhỏ cho chị Mai thị Lê ở lại trông coi vườn tược và những tài sản đất đai còn lại.
<br />
<br />                   Gia đình cụ bà Mục Cưu dọn vào Sài Gòn khoản cuối mùa hè năm Quý Dậu 1933 cho đến giữa mùa hè năm Giáp Tuất 1934, thời gian một năm trời cố nhiên chuyên lo việc tu trì hành đạo không sinh hoạt kinh tài. Trước tình cảnh “Tọa thực sơn băng” ngồi không mà ăn tiêu thì đến núi cũng phải lỡ, lâu ngày tất phải lâm vào thế túng thiếu.
<br />
<br />                 Mùa hè năm Giáp Tuất cụ bà Mục Cưu trở về Quảng Nam, mục đích tìm cách hoặc khôi phục lại kinh tế gia đình hoặc thanh toán hết để dọn cả vào Nam tính toan làm ăn một mối. Công việc đương xúc tiến bỗng dưng tin điện từ Sài Gòn đánh báo tin chẳng lành, hai anh Lê văn Liêm, Lê văn Bặc đã mất ngày mồng 3 tháng 8 Giáp Tuất. Bắt đầu từ đó gia đình cụ bà Mục Cưu bước lần vào cảnh u buồn ảm đạm, mặc dầu sau đó được tin anh Lê văn Liêm chứng quả Thánh Vị “Lục My Chơn Thánh” về cơ khuyên giải mẹ già và gia đình. Tiếp đến mấy tuần sau được tin có Thánh Lệnh truyền đạo Trung Kỳ đã giúp cụ bà và gia đình vơi đi bao nổi buồn thương để trông vào việc mở mang nền đạo.
<br />
<br />                 Nhưng ở đời thường “phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí” phúc thì chẳng mấy khi đến lặp mà họa thì cứ đưa đến dập dồn. Niềm an ủi kia mới nhốm nhen thì nổi đau buồn khác lại đã đưa đến. Mùa đông Giáp Tuất cụ bà Mục Cưu nhốm bệnh, sau hơn tuần cảm mạo bệnh tình bộc phát nguy cơ, các thời y đều bất lực, các anh Trần công Bang cầu Thần Tiên xin thuốc thì Thiêng Liêng chỉ khuyên trai giới tinh tấn và anh Lê văn Liêm (Lục My Chơn Thánh) về cơ cũng chỉ hết lòng khuyên nhủ mẹ già, sau cùng có mấy lời trần tình :
<br /><center>“Con Thanh Liêm khấu đầu trăm lạy.
<br />Cầu lượng Thầy năm bảy bốn ba.
<br />Trước đây thọ lệnh Bửu Tòa,
<br />        Ít lời nhắn nhủ mẹ già an vui.
<br />Nơi Tiên Cung ngậm ngùi dạ ngọc.
<br />Nhìn thầy đời biết khóc cùng ai?
<br />        Hiền Huynh rõ cuộc vắn dài,
<br />        Rõ đời mạt kiếp nạn tai thế nào?
<br />Gẫm cuộc thế phải sao chịu vậy.
<br />Luật Thiên Điều cải lẫy đặng đâu?
<br />        Lao đao đành chịu dãi dầu,
<br />        Có xa trần thế mới hầu lên Tiên.
<br />Đừng chi vội than phiền hờn trách.
<br />Kiếp con người bốn vách trầm lung.
<br />        Tử sinh lão bệnh chập chồng,
<br />        Dầu cho trăm tuổi cũng trong luân trần.
<br />Gia đình ta chí tâm mộ đạo.
<br />Đạo còn cao khảo đảo còn nhiều.
<br />        Đây Hồng Trần, đây Linh Tiêu,
<br />        Cách nhau chỉ có một điều là tâm.”</center>
<br />                   
<br />                   Thế rồi đến ngày 20-11 Giáp Tuất cụ bà Mục Cưu mất. Từ ngày mùng 3-8 đến ngày 21-11 chưa đầy 4 tháng nhà họ Lê dồn dập bao nổi đau buồn, hai anh mất đến mẹ mất, Bạch Phụng, Kim Qui cố nén lòng gát qua những nổi đau thương thắm thiết để tiếp tục làm tròn sứ mạng Đức Chí Tôn giao phó.
<br />
<br />                   Lúc này gia đình họ Lê tạm bình yên được ít tháng, cuối tháng 3 năm Ất Hợi 1935 bỗng nhiên Kim Qui phát bệnh, đến ngày12-4 Ất Hợi chị Mai Thị Lê mất sau vài tuần nhuốm bệnh, đến ngày1-6 lễ khánh thành Thánh Tịnh Thanh Quang vài ngày sau Bạch Phụng mất, tiếp ngày 4-9 Ất Hợi Kim Qui mất, ngày 7-10 bé Lê Thị Huệ (con anh Lê văn Bặc) cũng chết rốt.
<br />
<br />                   Thế là từ tháng 8 năm Giáp Tuất đến tháng 10 năm At Hợi thời gian chỉ có 14 tháng mà gia đình họ Lê 9 người đã mất đi 7, chỉ còn lại vỏn vẹn có 2 người là anh Lê văn Cưu, chị Lê Thị Niêm thì đã xuất giá. Nhưng anh Hương Bồn thì đau yếu liên miên cảnh nhà họ Lê thật là thê lương ảm đảm, bà con họ hàng thì sợ lây phải nghiệp nên ít ai dám tới lui càng làm cho cảnh nhà thêm vắng lạnh. Bổn đạo thì có Thần Tiên giáng cơ dạy đạo và việc xảy ra của gia đình bà Mục Cưu ứng nghiệm với các lời tiên tri của Thần Tiên lúc ra Trung truyền đạo nên giữ vững được đức tin, anh chị Hương Bồn cũng nương nhờ tinh thần đó mà giữ lòng tin Thầy giữ đạo, tuy phần tu trì có sút giảm hơn trước.
<br />
<br />                   Tóm lại gia đình bà Mục Cưu từ tháng 10 năm Nhâm Thân 1932 cả nhà phát tâm nhập đạo vì tiếng gọi Thiêng Liêng, vì lý tưởng nền đạo mới, cả nhà phát nguyện xả phú cầu bần xả thân hành đạo; cho đến tháng 10 năm At Hợi 1935 vừa đúng 3 năm đã tiêu tan sản nghiệp bậc trung nông, ruộng tư nhà vườn, xe ép mía lò nấu đường v.v…đều bán sạch và nổi đau thương đáng kể hơn là 7 mạng người chỉ trong 14 tháng đã cùng từ bỏ cõi đời như đã nói trên.
<br />
<br />                   Cảnh trạng gia đình bà Mục Cưu quả thật là một đặc cách, khác hẳn với quan niệm phổ thông của người đời : làm lành được phúc làm dữ mắc họa, ở đây gia đình bà Mục Cưu phát tâm làm lành đến cao độ, hy sinh cả tài sản lẫn tính mạng dường ấy thì điều họa phúc lẽ nhân quả cũng thật là nhiệm mầu nêu lên ở lời kinh sám hối :
<br />                      “Người làm phúc có khi mắc nạn.
<br />                    Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang.”
<br />
<br />                   Mà còn để soi sáng cho người đời nhìn thấy xa hơn nữa thế nào là chân hạnh phúc, để nhận rõ cái hồng phúc thế gian vô thường và cái thanh phúc Niết Bàn vĩnh cữu mà Lục My Chơn Thánh đã khuyên gia đình :
<br />“Có xa trần thế mới hầu lên Tiên”
<br />
<br />                   Chơn lý đạo lý là thế, nhưng thực tế ở đây gia đình bà Mục Cưu một gia đình đáng thương đáng kính, đã hy sinh trọn vẹn góp phần mở đường cho công cuộc truyền bá Đạo Cao Đài ra Trung Kỳ lúc bấy giờ, cũng xứng đáng chép vào Sử Đạo “một gia đình hy sinh vì đạo vậy”
<br />
<br />
 

Honeytothebees

New member
 
ba`i viet cua anh rat hay, rat tiec khong co hi`nh anh minh ho.a, neu co' duoc hi`nh Tu Linh dong tu  hay ong Tran Cong Bang thi hay biet may, cam on. <br>
 

An Phuoc

New member
<P>Ảnh Tứ Linh Đồng Tử:</P>
<P><IMG height=479 src="uploads/hinhanh_07.2008//2009-09-10_125928_DSC05102.JPG" width=639 border="0"></P>
<P>Ảnh Đạo Trưởng Đồng Tử Thanh Long:</P>
<P><IMG src="uploads/hinhanh_07.2008//2009-09-10_130341_DSC05104.JPG" border="0"></P>
<P>Ảnh Bạch Phụng Đồng Tử:</P>
<P><IMG src="uploads/hinhanh_07.2008//2009-09-10_130531_DSC05105.JPG" border="0"></P>
<P>Ảnh Kim Quy Đồng Tử:</P>
<P><IMG src="uploads/hinhanh_07.2008//2009-09-10_130621_DSC05107.JPG" border="0"></P>
<P>Ảnh của Đồng Tử Xích Lân và Pháp Đàn Trần Công Ban không tìm được. Xin quí ACEs vui lòng đăng thêm.</P>
 

An Phuoc

New member
<P> Ánh Đạo Trưởng Nguyễn Quang Châu: </P>
<P><IMG src="uploads/hinhanh_07.2008//2009-09-10_132326_DSC05112.JPG" border="0"></P>
<P>An Phước</P>
 

Đạt Tường

New member
<P><FONT size=3></FONT> </P>
<P align=justify><FONT size=3><IMG src="http://caodaivn.com/uploads/hinhanh_07.2008//2009-09-10_152047_2009-09-10_125928_DSC05102.jpg" border="0"></FONT></P>
<P align=justify><FONT size=3>Cần lưu ý với các bạn: </FONT><FONT size=3>Đây là hình của Tứ Linh Đồng Tử.</FONT></P>
<P align=justify><FONT size=3>Không biết xuất xứ của hình này là từ đâu (địa điểm) và vào năm nào?</FONT></P>
<P align=justify><FONT size=3>Với những bạn chưa có dịp được hầu đàn cơ trong Cao Đài giáo, xin lưu ý, hình này không có diễn tả việc "cầu cơ" là như thế!</FONT></P>
<P align=justify><FONT size=3>Chỉ một chi tiết giúp chúng ta dễ dàng nhận ra đây không là một buổi cầu cơ mà chỉ là hình ghi nhận hình ảnh của Tứ Linh mà thôi: <strong>Vị "Điển Ký"</strong> (người chi chép nội dung buổi đàn) <strong>không thể nào để tập viết ngay trên bàn cơ</strong>!</FONT></P>
<P align=justify><FONT size=3>Vì khi Thiêng liêng giáng điển, cơ sẽ quay tròn trong không gian phía trên bàn cơ, khi viết cơ sẽ quẹt trên mặt bàn từ trái sang phải như viết thành câu. Như thế, không còn không gian cho vị Điển Ký có thể thực hiện nhiệm vụ nếu ĐK cũng dùng bàn cơ làm bàn điển ký! Chưa kể lúc chờ đợi viết tiếp, cơ sẽ quay tròn trong không gian phía trước hay trên đầu người Đồng Tử. Khi đó, với khoảng cách quá gần như hình minh họa thì cơ quay sẽ trúng vào người Điển Ký.</FONT></P>
<P align=justify><FONT size=3>Vì thế l</FONT><FONT size=3><strong>uôn luôn có lập 1 bàn riêng cho Điển Ký</strong>. Thông thường có 2 Điển Ký hành nhiệm vụ cùng một lúc trong buổi đàn, vì cơ viết khá nhanh, có khi ĐK viết không kip. Phải có 2 người viết để có thể bổ sung cho nhau hầu có được bổn điển hoàn chỉnh sau buổi đàn.</FONT></P>
 

Trung ngôn

Active member
<font style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;" size="4">Thưa </font><font size="4"><span style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;">Quý huynh tỷ,
<br style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;"><br style="font-family: Arial,Helvetica,sans-serif;">Huynh Đạt Tường nhận xét chính xác.<br>Hình ảnh Tứ linh đồng tử ở trên không phải chụp từ một buổi hầu đàn thật sự. <br>Đây là hình được vẽ thì đúng hơn, bản được đăng là được chụp lại (chưa tìm được nguồn gốc).<br>Tứ linh đồng tử khi ra Trung kỳ theo Thánh lệnh lúc đó Quý Ngài còn nhỏ tuổi, sau đó "Lân, Quy, Phụng nhắm rừng non" nên chỉ còn Ngài Thanh Long, sau đó có thêm một đồng tử bổ sung là Ngài Bạch Hổ Trần Quang Châu (tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ).<br>Đọc thêm Hồi ký Thanh Long Lương Vĩnh Thuật để biết thêm chi tiết.<br>Kính.<br></span></font>
 

Facebook Comment

Top