<DIV =posttext align=left><FONT size=3>Ngoài Nhơn đạo, đức Khổng Tử <BR>còn dạy làm Tiên, Thánh. <BR><BR>Chánh-tín <BR><BR>Chung chung người tín hữu CAO ĐÀI thường chỉ biết đức Khổng Tử dạy Tam Cang và Ngũ Thường. Tam Cang nằm trong Ngũ Luân của Khổng Giáo là Quân Thần cang (đạo vua tôi) Phụ tử cang (đạo cha con), Phu thê cang (đạo chồng vợ) và còn hai giềng nữa là đạo huynh đệ (cư xử giữa anh em ruột) và bằng hữu là bầu bạn với nhau cho đúng đạo lý. <BR>Ngũ Thường hay Ngũ Đức hoặc năm hằng là năm đức tánh cần trau giồi là : Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. <BR><BR>Đức Khổng Tử dạy Nhơn Đạo là dạy đạo làm người cho đúng nhơn phẩm con người mới xứng đáng đứng vào hàng Tam Tài (Thiên Địa Nhơn). Ngoài Nhơn Đạo kể trên, người tín đồ Cao Đài cần phải học để hiểu thêm về phần Thánh Đạo của đức Khổng Tử, vì Tôn chỉ của Đạo Cao Đài là Qui Nguyên Tam Giáo : Nho, Thích, Lão. <BR>Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ, một học giả uyên thâm về triết học Đông phương, trong quyển sách "Khổng Học Tinh Hoa" có nhận xét như sau : Nhiều người hiểu rằng Khổng Giáo chỉ dạy con người trở nên hiền nhân quân tử, chớ không làm cho con người siêu phàm, thoát tục như Phật giáo, Lão giáo. Đó là một sự ngộ nhận đáng tiếc. Thực ra, Khổng Giáo có mục đích thâm viễn là Thánh hóa con người giúp con người tiến đến cực điểm tinh hoa, sống cuộc đời hoàn thiện, phối hợp cùng Thượng Đế....". <BR><BR>Chính vì cùng một lý ấy mà Đạo Cao Đài thờ Tam Giáo Đạo Tổ : Nho, Thích, Lão ngồi ngang hàng đồng vị, đồng quyền pháp như nhau, mà chúng ta nhìn thấy trên Thiên Bàn : tượng của đức Khổng Tử, đức Thích Ca, và đức Lão Tử được sắp thờ cùng một hàng. Chính theo Tân Luật Cao Đài, mỗi luật lệ muốn đem ra thi hành phải có đủ ấn của chức sắc các cấp đại diện Tam Giáo Tòa mới có giá trị. <BR><BR>Thánh xưa vẫn bảo là : Muốn tu Tiên Đạo trước phải tu Nhơn Đạo cho xong. Nhơn Đạo chưa tròn khó bước lên hàng Tiên Đạo, còn xa vời lắm. (Dục tu Tiên Đạo, Tiên tu Nhơn Đạo, Nhơn Đạo bất tu Tiên Đạo viễn hỉ) Điều nầy là hẳn nhiên rồi. Đức Khổng Tử chỉ chọn một số đại đệ tử có căn trí cao mới truyền trao Thánh Đạo, còn phần Nhơn Đạo thì được truyền bá rộng rải cho đại chúng. Vì Khổng Giáo được chia ra làm hai phần. Hình Nhi Hạ Học (enseignement exotérique hay Ngoại Giáo Công Truyền) dạy về Nhơn Đạo và phần Hình Nhi Thượng Học (enseignement ésotérique hay Nội Giáo Tâm Truyền ) dạy về Thánh Đạo. <BR><BR>Kinh sách của Nho Giáo gồm có Tứ Thư (quatre Livres clas-siques) và Ngũ Kinh ( 5 Livres canoniques ). <BR><BR>a- ) Tứ Thư là bốn cuốn sách gồm có : <BR><BR>- Đại Học (Livre sur La Grande Etude) <BR>- Trung Dung (Livre du Juste Milieu ou Milieu invariable) <BR>- Luận Ngữ (Livre des Entretiens) <BR>- Mạnh Tử (Livre de Mencius) <BR><BR>b- ) Ngũ Kinh là 5 cuốn kinh gồm có : <BR><BR>- Kinh Thi ( Livre des poésies ) <BR>- Kinh Thơ ( annales de la chine ) <BR>- Kinh Dịch ( Livre des mutations ou transformation ) <BR>- Kinh Lễ ( Livre des Rites ) <BR><BR>- Kinh Xuân Thu ( Chroniques de la Principauté des Lou ( Lỗ ) <BR><BR>Do chính đức Khổng Tử soạn ra về sử của nước Lỗ trong khoảng 200 năm, còn bốn cuốn kia thì Ngài san định lại những tư tưởng của các Thánh Hiền đời xưa và sắp xếp hệ thống hóa cho có lớp lang để người sau dễ theo học. <BR>Hình Nhi Thượng Học là phần tinh thần của Khổng Giáo, thuộc về Tâm Truyền cao siêu dành cho những hàng có trí thức và trình độ cao mới lãnh hội được cái Đạo của Ngài. <BR><BR>Còn Hình Nhi Hạ Học là phần thiết thực đối xử trực tiếp với đời. ở phần nầy Ngài dạy học trò biết phân biệt thế nào là quân tử và tiểu nhân,về vn đề học vn,cách tu thân,cách đối xử giữa vua tôi, cha mẹ, chồng vợ, anh em, bằng hữu. Ngũ Luân và Ngũ Thường trong phần nầy còn đề cập đến nhiều về vn đề chính trị,chính danh định phận, tôn quân quyền,Thiên ý và dân tâm, quân dân tương thân hành chánh tương tham, v.v... <BR><BR>Chủ trương của Khổng Giáo là cốt dạy cho con người có đức hạnh hoàn toàn và có nhân phẩm cao quí, xứng đáng là người quân tử, thượng đạt chí cả cao minh, còn kẻ tiểu nhân hạ đạt thì thấp kém hèn hạ. Đức Khổng Tử thường đem đối đi để dạy học trò giữa hai hạng người là Quân tử và Tiểu nhân. Người quân tử thì cao thượng, minh mẫn cao quí, còn người tiểu nhân thì xu xa, u-tối và đê tiện. Những dẫn dụ của Ngài cho học trò như : <BR><BR>* Quân tử mưu Đạo bất mưu thực. Quân tử thì Lão nghiên cứu học Đạo Thánh Hiền, chớ không Lão bổng lộc nuôi thân. <BR><BR>* Quân tử ưu Đạo bất ưu bần. Người quân tử Lão chẳng học được đạo mà chẳng Lão về sự đói nghèo. <BR><BR>* Người quân tử có ba điều kiêng sợ : <BR>a ) Kiêng sợ mạng Trời, <BR>b ) Kiêng sợ người có đạo đức lớn, <BR>c ) Kiêng sợ lời nói của Thánh Nhân. <BR><BR>Trái lại, kẻ tiểu nhân thì không còn biết mạng Trời là gì ? lại còn khinh lờn những bậc đại nhân đạo đức và khi dễ lời nói của Thánh Hiền. <BR><BR>Quân tử cần phải có đủ ba đức : Nhân Trí Dũng, để sống trong xãhội không lầm lạc và hối hận. <BR><BR>Tánh của người quân tử còn phải như nước, biết hạ mình dìu dắt, độ người vượt qua mọi gian nguy khổ hải. Còn kẻ tiểu nhân thì làm ngược lại luôn luôn...... <BR><BR>Nếu phần Hình Nhi Hạ Học thuộc về vấn đề quan hệ đến nhân sinh và những điều nhựt dụng của người đời, thì phần Hình Nhi Thượng Học của Khổng Giáo thuộc về những lẽ vô hình và triết lý sâu xa của Thiên Đạo và Nhơn Đạo, gồm có những mục như: <BR><BR>- Quan niệm về Trời và người. <BR>- Thái Cực và sự biến hóa của Thiên lý. <BR>- Người và sự tri giác. <BR>- Trung -Sinh-Nhân, Thiên mệnh <BR>- Quỉ thần <BR>- Kinh và thành <BR>- Sinh -Tử. <BR><BR>Hình Nhi Thượng Học Khổng Giáo đề cập đến nguyên lý và nguyên nhân của sự sanh hóa trong Vũ Trụ. <BR><BR>Đức Khổng Tử chủ trương là Thiên Địa vạn vật đồng nhứt thể. Cái lý nhứt thể y lưu hành khắp trong Vũ-trụ, theo cái lẽ tương đối, tương điều hòa mà sinh sinh hóa hóa. Đó là cái lý sinh hóa trong Vũ trụ. Cái động thể của cái Lý y phát hiện ra bởi hai thể khác nhau là Động và Tịnh. Động là Dương, Tịnh là Âm. Hai thể y cứ theo liền nhau, rồi tương đối, tương điều hòa để biến hóa mà sanh ra Trời đất và vạn vật. <BR><BR>Ngài còn tìm cái Lý Thái Cực độc nhứt tuyệt đối. Thái Cực sinh ra Lưỡng Nghi, (âm dương) Lưỡng Nghi sinh ra Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh ra Bát Quái (tám quẻ). Bát quái mới biến hóa ra Càn Khôn vạn vật..... Theo Đạo Dịch của Khổng Tử, thì trong Trời đất mỗi vật đều biến đổi luôn luôn. Đạo của Trời đất cứ lưu hành như nước chảy không lúc nào ngưng nghỉ (Đạo pháp trường lưu bất tận). Cái vừa mới có đã thành ra quá khứ rồi, liên tiếp nhau mãi mãi. Đạo Trời đất là cứ biến hóa luôn luôn, nhưng lúc nào cũng có sự điều hòa, tức là có cái Trung bình hành. Trung bao giờ cũng hàm ý cái Hòa. Trời đất vạn vật có trung mới đứng vững được và có cái Hòa mới hóa dục quần linh được. Cho nên sách Trung Dung của Khổng Giáo có viết : "Trung giả giả, thiên hạ chi ban giả, hoà giả thiên hạ chi đạt đạo giả. Trí Trung Hòa, Thiên địa vị yên, vạn vật dục yên " Nghĩa là Trung là cái gốc lớn của Thiên hạ, Hòa là cái đạt đạo của Thiên hạ . Cùng cực cả Trung Hòa thì Trời đất định vị vạn vật hóa dục yên. <BR><BR>Trên đây là quan niệm về Vũ Trụ của Khổng giáo, còn những phần khác không thể tiếp tục trình bày hết, vì phạm vi hạn chế của tập san. Phần còn lại, chúng tôi dành để trình bày về sự giáo dục của môn sanh có trình độ căn trí cao, để trở nên hàng Hiền Nhân Thánh Triết hầu giúp đời được ghi trong quyển sách Đại Học, do thầy Tăng Sâm vị cao đồ của đức Khổng Tử soạn trong đó có ba điều cốt yếu là Tam Cương lãnh và Bát điều mục. <BR><BR>Tam Cương lãnh là : Minh Đức, Tân Dân và Chí Thiện. <BR><BR>Bát điều mục là : Cách vật, Trí tri, Thành ý, Chánh tâm, Tu thân Tề gia, Trị quốc và bình thiên hạ. <BR><BR>-Tam Cương Lãnh : <BR><BR>1 ) Minh Đức là làm sáng tỏ cái đức hằng tại nơi mình mà Trời đã phú ban cho con người. <BR>2 ) Tân Dân là dạy cho dân mỗi ngày được mới mẻ tiến bộ hơn. <BR>3 ) Chỉ ư chí thiện là dạy hai điều trên cho đến chỗ chí thiện, tột lành, tột tốt. <BR><BR>Bát Điều Mục : <BR><BR>1 ) Cách vật : học hỏi đến nơi đến chốn, <BR>2 ) Trí tri : biết điều gì phải hiểu cặn kẻ, <BR>3 ) Thành ý : thành thật trong việc làm, <BR>4 ) Chánh tâm : giữ lòng dạ ngay thẳng, <BR>5 ) Tu thân : trau giồi bản thân cho chính, <BR>6 ) Tề gia : việc gia đình phải cho được ổn thỏa, <BR>7 ) Trị Quốc : chăm Lão việc nước cho đúng phép, <BR>8 ) Bình thiên hạ : ổn định việc chung của thiên hạ . <BR><BR>Thiên Đạo của đức Khổng Tử nằm trong Đại Học Chi Đạo là cái học cho đến lúc triệt thượng, triệt hạ, thành kỷ thành nhân, gồm cái học từ bản thân đến gia đình, từ gia đình đến quốc gia, xã hội, từ quốc gia xã hội đến thiên hạ. Chữ Đạo gồm ba nghĩa rộng lớn là con đường Chân Lý và cũng là phương pháp để đạt sự phối Thiên, hiệp nhất với Thượng Đế. <BR><BR>Cái Đạo của Khổng Giáo gồm trong ba câu dưới đây : <BR><BR>- Tại Minh đức, <BR>- Tại Tân dân <BR>- Tại Chỉ ư chí thiện. <BR><BR>Muốn được sáng tỏ hơn việc Khổng Tử vẫn hành Thiên Đạo và chỉ truyền cho một số cao đồ thượng đạt của Ngài mà thôi. Chúng tôi xin minh chứng Thánh Giáo của đức Cao Đài Thượng Đế trong Kinh Đại Thừa Chơn Giáo như sau : "Các con nên hiểu rằng : Lúc Khổng Tử dạy về Nhơn Đạo thời chưa thông Thiên Đạo, còn dùng tửu nhục. Đến ngộ Đạo cùng Hạng Thát thì trì trai thủ giới, nên mới có câu :"Thiên sanh Khổng Tử chơn kỳ trí, tánh mạng công phu thỉ bất minh, vãng trần lộ ngộ Hạng Thác vi sư, Lão tác đồ ty thiếu vi tôn" cùng câu :"Trai minh thanh phục yếu dục dưỡng tinh". Sau người Châu Tử chẳng thông thời vụ, học Trung Dung chưa rồi mà luận đến Thiên Đạo lại chê Lão Tử, Khổng Tử rằng luận thuyết hư vô tịch diệt là dị đoan. Có phải y là ếch nằm đáy giếng xem Trời nhỏ chăng ". <BR><BR>Người tu hành theo Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, đừng nghĩ rằng Khổng Tử chỉ dạy về Nhơn Đạo mà thôi, cần phải nghiên cứu thêm Tứ Thư và Ngũ Kinh là căn bản giáo lý của Đạo Khổng, nhứt là Kinh Dịch và Trung Dung ,v.v... Đạo của đức Khổng là Ngô Đạo nhất dĩ quán chi, Ngài nói với thầy Tăng Sâm. Đạo ta chỉ có một gốc mà quán suốt hết muôn lẽ, muôn việc trong thiên hạ . ở trong một gốc mà bao bọc hết cả đạo lý muôn việc, ly một gốc y mà nẩy nở ra muôn nhành ngàn lá, ấy là "Nhất dĩ quán chi ". <BR>*** <BR><BR>Chánh-tín</FONT></DIV>