Có ai biết thì cho em hỏi

hongthanh

New member
 Thật ra thì câu hỏi của đệ liên quan đến đạo Phật hơn và lẽ ra thì nên hỏi thẳng người nhà Phật nhưng mà đệ không biết diễn đàn nào của nhà Phật cả cho nên mới vào đay hỏi thử,với lại Đ.Đ.T.K.P.Đ lấy tôn chỉ là tam giáo qui nguyên-ngũ chi phục nhứt thì phải hiểu rõ về các tôn gioá cho nên đệ mới vào đây hỏi cho tiên.Câu hỏi của em như thế này:HỒi bữa em đọc một truyện tranh của con cháu ở nhà thấy có nói là bà Quan Thế Âm Bồ Tát-Nam Hải Lạc Già là cô công cháu Diệu Thuyền đắc đạo vậy xin mấy huynh cho đệ biết <strong>sự tích thành đạo của QUAN ÂM -Nam Hải Lạc Già</strong>
 

Minh Hy

New member
<P> <FONT size=3>Mời em xem , anh vừa tìm được trong Tủ Sách Đại Đạo đây :</FONT></P>
<P> <I><FONT color=#0000ff size=3>Quan Thế Âm Bồ Tát là một vị Bồ Tát nhận biết được tiếng kêu cứu của chúng sanh nơi cõi trần, Ngài liền hiện đến để cứu khổ cứu nạn cho chúng sanh.</FONT></I></P>
<P =THAN1><FONT size=3><FONT color=#0000ff>Do đó, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát còn được gọi là: <I>Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Từ Đại Bi Quảng Đại Linh Quan Thế Âm Bồ Tát, hay gọi vắt tắt là: Quan Âm Bồ Tát hay Quan Âm Như Lai.</I></FONT></FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Ngài là một vị Nữ Phật, nhưng còn mang danh hiệu Bồ Tát là vì Ngài còn nhiệm vụ cứu độ chúng sanh.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Phật giáo Tây Tạng gọi Ngài là Quán Thế Âm Phật, là vị Phật Nam, hộ trợ xứ Tây Tạng. Người Tây Tạng đều tin rằng, chính Ngài chuyển hóa vào thân Đức vua Đạt-Lai-Lạt-Ma cai trị xứ Tây Tạng, nên dân Tây Tạng xem Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma là vị Phật sống của họ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có một hiện thân gồm 11 cái mặt, 1000 cánh tay, 1000 con mắt, có 108 hồng danh. Ngài ngự tại Đền Potala nơi kinh đô xứ Lhassa, Tây Tạng.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Ở Trung Hoa và Việt nam, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là vị Nữ Phật do hai truyện tích: Quan Âm Thị Kính và Quan Âm Diệu Thiện.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Bất cứ hạng người nào trong chúng sanh, khi bị lâm nguy tánh mạng, như gặp phải tai nạn lửa cháy, tai nạn chìm tàu, bị cướp hãm hại, bị tra khảo, tù đày oan ức, v.v.... nếu thành tâm niệm danh hiệu của Ngài để cầu cứu thì Ngài liền hiện đến mà cứu giúp cho tai qua nạn khỏi.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Trong Đạo Cao Đài, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là vị Nữ Phật, đại diện Đức Phật Thích Ca, lãnh lịnh Đức Chí Tôn làm Đệ Nhị Trấn Oai Nghiêm, cầm quyền Phật giáo thời ĐĐTKPĐ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Trên tấm diềm phía trước Bát Quái Đài Tòa Thánh, tượng của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ngự trên tòa sen, gần bìa phía tay mặt của Đức Lão Tử, thuộc bên Nữ phái.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nơi Thánh Tượng Thiên Nhãn thờ tại tư gia, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ngự trên tòa sen, hình Ngài ở phía mặt của Thiên Nhãn, dưới hình Đức Thái Thượng Lão Quân.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=3><FONT color=#0000ff>Trong LUẬT TAM THỂ, Bát Nương có giáng cơ dạy rằng: <I>"Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về Cơ Giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về Cơ Phổ độ mà Quan Thế Âm Bồ Tát là Đấng cầm đầu. Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tại Cung Nam Hải, ở An Nhàn Động, còn Cung Diêu Trì thì ở tại Tạo Hóa Thiên."</I></FONT></FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Trong Truyện Tây Du Ký, hình ảnh của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát được mô tả như sau:</FONT></P>
<P =THI><FONT color=#0000ff size=3>" Bốn đức tròn viên mãn, Thân vàng tỏa sáng thông,<BR>Chuỗi ngọc biếc rủ cạnh, Vòng thơm đeo bên mình.<BR>Tóc mây uốn đen lánh, Đài thêu thắt ngang lưng,<BR>Bào trắng khuy ngọc bích, Mây lành che quẩn quanh.<BR>Quần gấm dây vàng óng, Khí đẹp phủ quanh thân,<BR>Lông mày vầng trăng khuyết, Mắt vì sao long lanh.<BR>Mặt ngọc tươi roi rói, Môi đỏ thắm tuyệt trần,<BR>Bình Cam lồ đầy ắp, Cắm cành dương liễu xanh,<BR>Độ chúng sanh thoát nạn, Rất từ bi hiền lành.</FONT></P>
<P =THI><FONT size=3><FONT color=#0000ff><I>Vậy nên:</I> Giữ núi Thái sơn, Coi miền Nam hải,<BR>Độ người khổ ải, Nghìn Thánh nghìn thiêng,<BR>Muôn kêu muôn ứng.<BR>Lòng lan vui khóm trúc, Tánh huệ quí mây thơm.<BR>Đó là vị Chúa Từ bi ở Phổ Đà Sơn,<BR>Chính là Đức Quan Âm nơi An Nhàn Động."</FONT></FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Theo các kinh sách truyền lại, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có 33 kiếp giáng trần, khi thì làm nam nhi, khi thì làm thiếu nữ, khi thì giáng sanh vào nơi cao sang quyền quí, khi thì vào nơi bần cùng nghèo khổ, khi thì làm Đạo sĩ, khi thì làm Tỳ Kheo, v.v....</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Có hai kiếp giáng trần làm phụ nữ của Ngài được người đời truyền tụng:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>- Đó là kiếp thứ 10: Ngài giáng trần làm nàng Thị Kính ở nước Cao Ly, tu hành đắc đạo, gọi là Quan Âm Thị Kính.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>- Kiếp giáng trần sau chót ở nước Ấn Độ là Công Chúa Diệu Thiện, cũng tu hành đắc đạo tại Phổ Đà Sơn ở Nam Hải, nên gọi là Quan Âm Diệu Thiện.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Sau đây xin chép lại hai sự tích nổi tiếng nầy:</FONT></P>
<H3><FONT color=#0000ff size=3>Sự tích 1: QUAN ÂM THỊ KÍNH</FONT></H3>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đã đầu thai xuống trần tu hành được 9 kiếp rồi, đến kiếp thứ 10, Ngài giáng sanh vào nhà họ Mãng ở nước Cao Ly (Triều Tiên). Hai ông bà họ Mãng đã lớn tuổi rồi, nhà lại giàu có, nhưng chưa có con. Ngày kia, hai vợ chồng lên chùa cầu tự, sau đó có thai và sanh được một gái, dung nghi đẹp đẽ, tướng mạo đoan trang, đặt tên là Thị Kính.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Khi nàng Thị Kính đến tuổi cặp kê, gần đó có chàng Thiện Sĩ, con nhà họ Sùng, cậy mai mối đến hỏi cưới Thị Kính. Vợ chồng Mãng Ông thấy phải đôi vừa lứa nên bằng lòng gả Thị Kính cho Thiện Sĩ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nàng Thị Kính rất buồn bã vì phải về ở nơi nhà chồng, không ai săn sóc cha mẹ. Cha mẹ nàng an ủi: Cha mẹ sanh con gái đến tuổi khôn lớn gả chồng, làm đẹp mày đẹp mặt cho cha mẹ là đủ rồi. Vả lại, nhà bên chồng của con cũng ở gần đây thì sự thăm viếng cũng thuận tiện.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Từ khi về nhà chồng, Thị Kính giữ một mực tôn kính, phụng sự nhà chồng, trong ấm ngoài êm, ai nấy đều khen ngợi.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Một ngày kia, nàng đang ngồi may vá, chàng Thiện Sĩ đọc sách mỏi mệt, đến gần chỗ nàng ngồi may nằm nghỉ và ngủ quên. Nàng thấy nơi càm chồng có mọc sợi râu bất lợi, nên sẵn cầm dao nhíp nơi tay, nàng đưa dao cắt đứt. Bỗng chàng Thiện Sĩ giựt mình thức dậy, thấy vợ đang cầm dao đưa ngay vào cổ mình, vụt la hoảng: Vợ tôi muốn giết tôi.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Trong nhà vỡ lỡ, cha mẹ chồng chạy ra gạn hỏi, nàng cứ tình thiệt trình bày. Không ngờ cha mẹ chồng quá nghiêm khắc, bắt tội nàng mưu giết chồng, buộc Thiện Sĩ phải làm tờ thôi vợ, rồi cho mời Mãng Ông tới để lãnh con gái về.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nàng Thị Kính phải mang mối hàm oan, đành lạy từ cha mẹ chồng, theo Mãng Ông trở về nhà. Nàng buồn bã muôn phần, một là buồn cho số phận xui xẻo, hai là buồn cho cha mẹ phải mang điều phiền não. Nàng than rằng: Nếu nàng có anh em đông thì nàng đành quyên sinh để khỏi mang tiếng nhơ như thế. Nhưng vì nàng là con một, nên nàng không dám hủy mình, sợ mang tội bất hiếu, mà ở như thế nầy thì cũng rất khổ tâm, cho nên nàng quyết định xuất gia, lo tu hành cho đắc đạo, rồi sẽ trở về độ cha mẹ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nàng lén cải trang thành một nam tử, rồi bỏ nhà trốn đi, đến một ngôi chùa nọ thì gặp Sư cụ đang thuyết pháp. Nàng thấy Sư cụ là bực chơn tu, nên xin Sư cụ cho thọ pháp qui y.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Sư cụ gạn hỏi nhiều lần, vì Sư cụ thấy trang thiếu niên nầy còn trẻ quá mà sao lòng chán đời, đến nương nhờ cửa Phật, gột rửa lòng phàm. Sư cụ thấy lòng thành và chí quả quyết của người thiếu niên, nên cho thọ pháp qui y, đặt Pháp danh là Kỉnh Tâm, và nhận Kỉnh Tâm làm đệ tử.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Sãi Kỉnh Tâm là gái giả trai, nên dung mạo đẹp đẽ, làm cho hàng tín nữ trầm trồ, nhứt là nàng Thị Mầu, con của một vị trưởng giả giàu có ở vùng ấy. Thị Mầu nhiều lần trêu ghẹo Sãi Kỉnh Tâm, đưa lời ong bướm, nhưng Kỉnh Tâm vẫn trơ trơ như không hay biết. Thị Mầu quá si mê Kỉnh Tâm, trong một lúc quá bồng bột, không kềm giữ được lòng dục, nàng tư thông với đứa tớ trai của nàng, khiến nàng có thai.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Làng xã thấy nàng Thị Mầu không chồng mà có chửa, nên gọi nàng và cha mẹ nàng đến tra hỏi. Nàng khai rằng, nàng có tư tình với Sãi Kỉnh Tâm nên mới ra cớ sự, và xin làng rộng tình cho Kỉnh Tâm hoàn tục kết duyên với nàng.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Trống mõ inh ỏi, cửa Thiền xưa nay êm lặng, phút chốc trở nên huyên náo, người làng đến đòi Sư Ông và Sãi Kỉnh Tâm ra làng dạy việc. Thầy trò không biết việc gì, cùng dắt nhau đi, đến nơi mới hay tự sự.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Tá hỏa tâm thần, thầy hỏi trò có sao cứ khai thiệt. Kỉnh Tâm một mực kêu oan, chớ không dám nói điều chi khác nữa.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Kỉnh Tâm bị làng đem ra tra tấn, đòn bộng, máu đổ thịt rơi, mấy lần bất tỉnh, nhưng Kỉnh Tâm vẫn một mực kêu oan. Sư Cụ động mối từ tâm, đứng ra xin bảo lãnh cho trò để đem về khuyên nhủ dạy răn.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Thấy thế, Hương chức làng cũng niệm tình ưng thuận.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Sau đó Sư Cụ bảo Kỉnh Tâm phải ra ngoài cổng Tam quan của chùa mà ở để tránh tiếng không tốt cho chùa.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Thời gian trôi qua, Thị Mầu sanh được một đứa con trai, nàng liền bồng đứa hài nhi đến cổng chùa giao cho Sãi Kỉnh Tâm, nói rằng: Con của ngươi thì đem trả cho ngươi.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Sãi KỉnhTâm đang tụng kinh, đứa hài nhi bị bỏ dưới đất, giãy giụa khóc la. KỉnhTâm nghe tiếng trẻ khóc, động mối từ tâm, chẳng cần dư luận, bèn ra ẵm đứa bé đem vào nuôi dưỡng.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Sư Cụ trách Kỉnh Tâm: Trước kia, con nói con bị hàm oan, mà nay con lại nuôi đứa bé nầy, chính thầy đây cũng phải nghi ngờ nữa, huống chi là ai.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Kỉnh Tâm bạch rằng: Bạch Sư phụ, khi xưa Sư phụ có dạy đệ tử rằng, cứu đặng một người thì phước đức hà sa. Đệ tử vâng theo lời thầy nên mới cứu mạng đứa bé nầy, chớ kỳ thật con không có ý chi hết.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Đứa trẻ càng lớn càng giống Kỉnh Tâm như hệt, lại có vẻ thông minh. Khi đứa bé được 3 tuổi thì Kỉnh Tâm lâm trọng bịnh, biết mình sắp lìa trần theo Phật, nên Kỉnh Tâm ráng ngồi dậy viết hai bức thơ: một gởi cho Sư Cụ, hai gởi cha mẹ ruột, ông bà họ Mãng, rồi dặn kỹ hài nhi làm đúng theo lời dặn.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Khi Sãi Kỉnh Tâm tắt hơi, đứa bé kêu cha khóc lóc một hồi, rồi nhớ lời cha dặn, liền đem thư vào đưa cho Sư Cụ .</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Sư Cụ mở thư ra, xem xong trong lòng rất bùi ngùi thương tiếc, sai vài vị Ni cô ra khám xét thi thể của Kỉnh Tâm, thì rõ ràng Kỉnh Tâm là gái giả trai.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Tin Sãi Kỉnh Tâm là gái giả trai được truyền đi mau lẹ trong làng, làm mọi người hết sức ngạc nhiên.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Hương Chức trong làng đòi Thị Mầu tới, buộc tội cáo gian, phạt phải chịu tổn phí về các cuộc tống táng và làm ma chay cho Kỉnh Tâm.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Thị Mầu quá xấu hổ, bèn liều mình quyên sinh.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Đến ngày an táng Sãi Kỉnh Tâm, tức là nàng Thị Kính, mọi người đều nhìn thấy Đức Phật ngự tòa sen hiện ra ở trên mây, rước hồn của nàng Thị Kính về cõi Tây phương.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Chàng Thiện Sĩ rất ăn năn hối lỗi, nên phát nguyện tu hành. Tục truyền rằng, Đức Quan Âm Bồ Tát nhận thấy chàng Thiện Sĩ thật tâm hối lỗi và quyết chí tu hành, nên hiện đến cứu độ, đem về Nam Hải, hóa thành một con chim đậu một bên Đức Quan Âm Bồ Tát, mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Quan Âm Bồ Tát cũng cứu độ đứa con nuôi, con ruột của Thị Mầu, đem về Nam Hải, đứng hầu bên Ngài.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Do đó, người ta họa hình Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đội mũ ni xanh, mặc áo tràng trắng, ngự trên tòa sen, bên tay mặt có con chim mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề, bên dưới có đứa trẻ bận khôi giáp chấp tay đứng hầu.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Đó là lấy theo sự tích Quan Âm Thị Kính.</FONT></P>
<H3><FONT color=#0000ff size=3>Sự tích 2: QUAN ÂM DIỆU THIỆN hay QUAN ÂM NAM HẢI.</FONT></H3>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Theo sự khảo cứu của học giả De Groot, người Hòa Lan, kiếp chót của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là Công Chúa Diệu Thiện, con của vua Linh Ưu nước Hưng Lâm, một Tiểu quốc của Ấn Độ, ở về phía Đông Ấn Độ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Từ ngày nhà vua lên ngôi đến nay đã 40 năm mà Hoàng Hậu Bửu Đức không hạ sanh được một vị Hoàng tử nào. Nhà vua cùng Hoàng Hậu đi lên núi Huê sơn cầu tự. Trên núi Huê sơn có một vị Thần rất linh hiển, ai cầu chi được nấy. Cầu tự xong, ít lâu sau, Hoàng hậu có thai, sanh đặng một Công Chúa, đặt tên là Diệu Thanh. Sau đó lại tiếp tục có thai sanh thêm hai nàng Công Chúa nữa là: Diệu Âm và Diệu Thiện; không sanh được một Hoàng Tử nào.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Ba nàng Công Chúa lớn lên, nhà vua định hôn cho hai chị của Diệu Thiện là Diệu Thanh và Diệu Âm, với hai vị quan trẻ tuổi và tài giỏi trong triều đình; còn nàng con gái út Diệu Thiện thì nhứt định không chịu lấy chồng, mà lại còn có ý xin phép vua cha và mẫu hậu xuất gia tu hành.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Vua Linh Ưu tức giận, đày Diệu Thiện vào trong Hoa Viên lo việc gánh nước tưới hoa, làm các công việc cực khổ; đồng thời cho người khuyến dụ nàng bỏ ý định đi tu, nhưng nàng nhứt định cam chịu khổ chớ không từ bỏ ý định tu hành.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Thấy vậy, Hoàng Hậu rất đau lòng, liền xin với vua Linh Ưu cho Diệu Thiện vào chùa Bạch Tước tu hành. Nhà vua chấp thuận, và ngầm ra lịnh cho các tăng ni trong chùa bắt Diệu Thiện làm các công việc nặng nhọc vất vả, để nàng không chịu nổi mà sớm trở về Cung nội.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Diệu Thiện, tâm vẫn cương quyết, làm đầy đủ các bổn phận, dầu rất cực khổ, nhưng không một tiếng than, và luôn luôn lo việc tu hành.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nhà vua thấy cách nầy thất bại, nên nghĩ ra cách sai lính đốt chùa, để Diệu Thiện không còn nơi tu hành, phải trở về Cung nội. Quân lính phóng hỏa khắp bốn mặt, các tăng ni hốt hoảng lo chạy thoát thân, riêng DiệuThiện vẫn điềm tỉnh, nàng lâm râm cầu nguyện, rồi lấy cây trâm chích vào lưỡi, ngước mặt phun máu lên không, tức thì mây đen hiện ra, mưa tuôn xối xả, dập tắt hết các ngọn lửa. Quân lính đều hết sức kinh ngạc.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nhà vua không vì sự mầu nhiệm đó mà hối hận, lại bắt Diệu Thiện về triều, tổ chức các cuộc đàn hát vui chơi, để làm cho Diệu Thiện say mê, bỏ việc tu hành. Nhưng vua cha vẫn thất bại bởi Đạo tâm vững chắc của nàng con gái út.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nhà vua quá tức giận vì không thực hiện được ý mình, nên ra lịnh tối hậu cho nàng Diệu Thiện chọn một trong hai điều: một là phế việc tu hành, lo bề gia thất; hai là chịu xử trảm vì cãi lịnh vua cha.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nàng Diệu Thiện nhứt quyết chịu chết chớ không chịu bỏ việc tu hành.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Thần Hoàng Bổn Cảnh vội vã bay về Trời tâu trình Thượng Đế, và Đức Thượng Đế ra lịnh cho Thần mau trở về bảo hộ nàng Diệu Thiện.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Diệu Thiện bị đưa ra pháp trường hành quyết. Khi đao phủ đưa đao lên định chém xuống thì đao liền gãy nát; lại lấy cung tên đặng bắn cho chết thì khi mũi tên gần tới Diệu Thiện thì mũi tên bị gãy nát. Thấy không giết được Diệu Thiện bằng hai cách trên, kẻ hành quyết liền dùng hai bàn tay đến siết cổ Diệu Thiện.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Bỗng đâu cuồng phong nổi lên, cát bay đá chạy, thiên ám địa hôn, một đạo hào quang bay đến bao phủ nàng Diệu Thiện, rồi Thần Hoàng hóa thành một con hổ lớn cõng Công Chúa Diệu Thiện chạy bay vào rừng. Các quan giám sát cuộc hành quyết bị một phen hoảng vía, trở về triều báo cáo lại với vua Linh Ưu tất cả các việc.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nhà vua không chút nao núng phán rằng: Công Chúa mang tội bất hiếu nên bị cọp tha mất xác cho đáng kiếp.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Công Chúa Diệu Thiện bất tỉnh, hồn Công Chúa thấy một vị Sứ giả mặc áo xanh, tay cầm tờ giấy nói rằng: Diêm Vương mời nàng xuống Diêm Cung để xem các cảnh khổ não và những hình phạt nặng nề những linh hồn mà trong kiếp sanh đã làm nhiều điều ác độc.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Thập Điện Diêm Vương cũng muốn nghe nàng thuyết pháp. Công Chúa vâng lịnh, dùng tâm từ bi và sức thần thông thuyết pháp cho 10 vua nghe, các tội hồn trong ngục cũng được nghe và liền giác ngộ. Trong phút chốc, chốn U Minh thành Lạc Cảnh, và các tội hồn đều được thoát ra khỏi ngục, đầu kiếp trở lại cõi trần.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Thấy các cửa ngục đều trống trơn, Thập Điện Diêm Vương vội đưa hồn Diệu Thiện trở lại dương thế và cho nhập vào xác. Nàng tỉnh dậy, thấy mình đang nằm giữa rừng vắng vẻ, không biết phải làm sao và đi phương nào.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Đức Phật Nhiên Đăng hiện ra trên mây, bảo nàng hãy đi ra biển Nam Hải, đến núi Phổ Đà, tu hành thêm một thời gian nữa thì sẽ đắc đạo, đạt vị Như Lai. Muốn đi đến đó, phải trải qua 3000 dặm đường. Đức Phật Nhiên Đăng lại tặng cho nàng một trái Đào Tiên, ăn vào không biết đói khát trọn năm mà còn được trường sanh bất lão.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nàng Diệu Thiện nhận lãnh và bái tạ Đức Phật, đoạn nàng tìm đường đi đến Nam Hải. Thái Bạch Kim Tinh hiện xuống, truyền cho Thần Hoàng biến ra Thần hổ, cõng Diệu Thiện đến Phổ Đà Sơn cho mau lẹ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Tại Phổ Đà Sơn, nàng Diệu Thiện tu thiền định trong 9 năm, đạo pháp đạt được cao siêu.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Ngày 19 tháng 2 năm ấy, là ngày thành đạo của Công Chúa Diệu Thiện. Chư Thần,Thánh,Tiên, Phật, đến chúc mừng và xưng tụng vị Bồ Tát mới đắc đạo. Công Chúa ngự trên tòa sen, hào quang sáng lòa, xưng là Quan Thế Âm Bồ Tát.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Lúc ấy chư Thánh muốn lựa một đồng tử để theo hầu Ngài, thì may đâu lúc đó có một vị tên là Hoàn Thiện Tài, mồ côi cha mẹ, phát nguyện tu hành, qui y Phật pháp, nhưng chưa chứng quả, nay nghe nơi Phổ Đà Sơn có một vị Bồ Tát mới đắc đạo, nên xin đến hầu Ngài.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Trước khi chấp thuận lời thỉnh cầu ấy, Đức Quan Âm muốn thử xem tâm chí của Thiện Tài ra sao. Ngài truyền cho Sơn Thần Thổ Địa hóa làm ăn cướp đến bắt Ngài, Ngài giả bộ sợ sệt kêu la cầu cứu và ngã té xuống hố sâu. Thiện Tài chạy đến cứu thầy, và nhảy theo xuống hố. Thiện Tài thiệt mạng, chơn hồn liền xuất ra khỏi xác, đến hầu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và được thâu làm đệ tử.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Về sau, Đức Quan Âm Bồ Tát thâu thêm Long Nữ, con gái của Đệ Tam Thái Tử của Long Vương Nam Hải, làm đệ tử.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nguyên ngày kia, Long Nữ hóa làm con cá đi dạo chơi trên mặt biển, chẳng may bị một ông chài bắt được. Ông đem cá ấy ra chợ bán. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát biết được, sai Thiện Tài đồng tử hóa ra một người thường, đi ra chợ hỏi mua con cá ấy, rồi đem ra biển Nam thả xuống.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nam Hải Long Vương nhớ ơn cứu tử cháu nội của mình, nên dạy Long Nữ đem một cục ngọc quí Dạ Minh Châu đến dâng Bồ Tát để Bồ Tát đọc sách ban đêm mà không cần đèn.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Long Nữ đến dâng ngọc xong, lòng hết sức cảm phục Bồ Tát, nên xin qui y và được Bồ Tát thâu làm đệ tử.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Từ ấy, Thiện Tài đồng Tử và Long Nữ luôn luôn theo bên cạnh để lo phụng sự Bồ Tát.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nhắc lại, từ khi vua Linh Ưu ra lịnh giết chết Diệu Thiện, và Diệu Thiện được Thần Hoàng cứu thoát, nhà vua mắc một chứng bịnh nan y vô cùng khổ sở, thân thể nhà vua bị lở loét ngoài da cùng mình, mùi hôi thối xông ra nồng nặc, nhức nhối đau đớn vô cùng. Nhiều danh y tới điều trị mà bịnh vẫn không thuyên giảm chút nào.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ở Nam Hải hay biết việc đó, nên Ngài hóa ra một vị sư già, đi đến kinh thành xin vào trị bịnh cho vua Linh Ưu.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Sau khi xem mạch vua, vị sư già tâu: Bịnh của Bệ hạ do oan nghiệt nhập với chất độc cao lương mỹ vị và tửu nhục hằng ngày, nên phát sanh ra ngoài da thành bịnh nan y. Nếu muốn chữa lành thì phải có đôi mắt và đôi cánh tay của một người con thì mới chế thuốc được.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nghe vậy, nhà vua cho đòi hai Công chúa Diệu Thanh, Diệu Âm và hai Phò mã đến, rồi nhà vua lập lại lời nói của vị sư già, hỏi xem có đứa con nào dám hy sinh để trị bịnh cho vua cha không?</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Hai Công chúa cùng tâu: Xin Phụ vương đừng nghe lời ông sãi mầm nầy, bởi vì một người bị khoét đôi mắt và bị chặt hết hai tay thì dù có sống cũng chẳng ra chi. Chẳng lẽ cứu bịnh một người mà lại hủy hoại một người khác hay sao?</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Vua Linh Ưu chợt nhớ tới Công chúa út là Diệu Thiện, liền than: Nếu Diệu Thiện còn sống thì Trẫm ắt lành bịnh, vì Diệu Thiện sẽ hy sinh cho Trẫm.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Vị Sư già liền tâu: Tâu Bệ hạ, Bần tăng biết rõ Công chúa Diệu Thiện hiện vẫn còn sống, ở tại núi Phổ Đà, biển Nam Hải. Xin Bệ hạ cho người đi đến đó, tìm Công chúa thì may ra chế được thuốc cho nhà vua. Bần tăng xin để thuốc lại đây, khi nào có đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện đem về thì nhập với thuốc nầy, nấu chung lại, rồi trong uống, ngoài thoa, bịnh của Bệ hạ sẽ hết ngay.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Vị Sư già nói xong thì từ giã nhà vua trở về núi.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Vua Linh Ưu rất mừng, liền cho sứ giả sắp đặt hành trang lên đường đi Nam Hải, tìm Công chúa Diệu Thiện. Khi sứ giả đến được Phổ Đà Sơn thì gặp một đồng tử bưng ra một cái mâm phủ vải trắng còn thấm máu tươi, trong đó có đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện, đem ra trao cho sứ giả và nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Đây là đôi mắt và hai cánh tay của Công chúa Diệu Thiện, sứ giả hãy mau đem về chế thuốc trị bịnh cho vua.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Hoàng Hậu khi nhìn thấy sứ giả đem đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện về, còn dính máu tươi thì òa lên khóc mướt. Thị vệ liền đem nấu với thuốc do vị Sư già để lại, cho nhà vua uống phân nữa, còn phân nữa để thoa lên khắp mình mẩy, phút chốc, thân thể nhà vua lành lặn như xưa, hết đau nhức, mà lại còn cảm thấy khỏe khoắn hơn trước.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Vua Linh Ưu và Hoàng Hậu cảm mến ơn nghĩa của Diệu Thiện, nên quyết định đi ra Phổ Đà Sơn một chuyến để tạ ơn. Xa giá đăng trình, gặp không biết bao nhiêu nguy hiểm, nhưng đều được Quan Âm Bồ Tát dùng thần thông cứu khỏi.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Đến nơi, vua Linh Ưu và Hoàng Hậu thấy một vị Bồ Tát đang ngự trên tòa sen, nhưng mất cả hai cánh tay và hai con mắt. Vua biết đó là Công chúa Diệu Thiện, con của mình, nên vô cùng xúc động, nhớ lại mà ăn năn sám hối lỗi lầm, rồi đồng quì xuống cầu nguyện cùng Trời Phật xin cho Công chúa được lành lặn như xưa.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Sự thành tâm cầu nguyện của vua và Hoàng Hậu có kết quả, Bồ Tát Diệu Thiện liền hiện hào quang với đầy đủ hai tay và hai mắt như lúc trước.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Lúc ấy, vua và Hoàng Hậu đều giác ngộ, quyết rời bỏ điện ngọc ngai vàng, đem mình vào chốn Thiền môn, lo tu hành cầu giải thoát.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Đức Chí Tôn giáng cơ cho biết, nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là do Đức Từ Hàng Bồ Tát biến thân.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=3><FONT color=#0000ff><B>TNHT. I. 31:</B> <I>"Người ta gọi Quan Âm là Nữ Phật Tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Đạo Nhơn biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương."</I> (Nhà Thương bên Tàu khởi đầu từ năm 1766 và dứt vào năm 1122 trước TL).</FONT></FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo nhân ngày Vía Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, tại Đền Thánh, thời Tý ngày 19-2-Kỷ Sửu (1949), cũng có nói như sau:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>"Hôm nay là ngày vía của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, Bần đạo đã thường nói, nơi cửa Thiêng liêng Hằng sống, Đức Quan Âm Bồ Tát là một Đấng ở trong gia tộc sang trọng và oai quyền hơn hết.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Cái nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là do nơi pháp thân của Từ Hàng sản xuất....."</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Do đó, trong Kinh Đệ Bát Cửu có câu:</FONT></P>
<P =THI><I><FONT color=#0000ff size=3>Cung Tận Thức thần thông biến hóa,<BR>Phổ Đà Sơn giải quả Từ Hàng.</FONT></I></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, Đức Từ Hàng Bồ Tát chiết chơn linh giáng trần, tu hành nhiều kiếp, cuối cùng đắc đạo tại Phổ Đà Sơn, hiệu là Quan Thế Âm Bồ Tát.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=3><FONT color=#0000ff>Trong con đường TLHS, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo cho biết, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát vâng lịnh Đức Phật Vương Di-Lạc <I>"chèo thuyền Bát Nhã Ngân hà độ sanh."</I></FONT></FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>"Bần đạo chỉ nói nơi xa xăm của chúng ta đi qua, chúng ta thấy hình trạng Bát Quái Đài, dưới chân có Thất Đầu Xà, và dưới mình của Thất Đầu Xà là Khổ hải, tức là cảnh trần của chúng ta đó vậy.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Bên kia, có liên tiếp mật thiết vô một nẻo sông Ngân hà, rồi Bần đạo chỉ cho hiểu rằng, từ Khổ hải về cảnh Thiêng liêng Hằng sống phải đi ngang qua Ngân hà, có một chiếc Thuyền Bát Nhã của Đức Quan Âm Bồ Tát, vâng lịnh Đức Di-Lạc Vương Phật, chèo qua lại sông Ngân hà và Khổ hải đặng độ sanh thiên hạ."</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Hội Thánh của Đạo Cao Đài chọn ngày 19 tháng 2 âm lịch là ngày thành đạo của Công Chúa Diệu Thiện làm ngày Vía Kỷ niệm Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Hằng năm, khi đến ngày nầy, tại Tòa Thánh và các Thánh Thất địa phương đều thiết lễ Đại Đàn cúng Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, có Chức sắc thuyết đạo nhắc lại công đức và nhiệm vụ của Ngài trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>KINH CỨU KHỔ là bài kinh đặc biệt cầu nguyện Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn chúng sanh.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có giáng cơ ban cho hai bài Kinh Thiên đạo là:</FONT></P>
<BLOCKQUOTE>
<UL>
<LI>
<P =THAN><FONT color=#0000ff size=3>Kinh Hạ Huyệt </FONT></P>
<LI>
<P =THAN><FONT color=#0000ff size=3>Kinh Khai Cửu, Đại Tường và Tiểu Tường. </FONT></P></LI></UL></BLOCKQUOTE>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Trong TNHT, có đăng nhiều bài Thánh giáo của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Mặt khác, trong Kinh Tam Nguơn Giác Thế, cũng có một bài Thánh giáo của Ngài, xin trích ra sau đây:</FONT></P>
<P =THAN1><I><FONT color=#0000ff size=3>Đêm mùng 2 tháng 11 năm Tân Mùi (1931).</FONT></I></P>
<P =THI><FONT size=3><FONT color=#0000ff><B>                     THI:</B><BR>Nhựt hoành nhị thập kiến giai thì,<BR>Lục nhựt đạo thành hiệp nhất chi.<BR>Thứ kỷ thương nhơn tâm bất tại,<BR>Nhị nhơn thê mộc diệt nguyên qui.</FONT></FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Giải rõ thi chiết tự:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nghe ta giải, khá chép mỗi hàng là 12 chữ:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Hai mươi, chữ Nhựt, chữ Giai hiệp chữ Kiến là chữ: QUAN 觀</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Chữ Lục hiệp với chữ Nhứt và chữ Nhựt là chữ: ÂM 音</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Chữ Thứ mà bỏ bớt chữ Tâm còn lại chữ: NHƯ 如</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Chữ Mộc mà thêm vô 2 chữ Nhơn gọi là chữ: LAI 來</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>DIỄN DỤ:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Phàm làm người ở thế gian, một kiếp phù sanh, nghĩ lại chẳng bao lâu, tuy số định trăm năm chớ ít người bảy chục, còn e hai nẻo rủi may: Đường may là người nhờ kiếp làm quan trung quân ái quốc, giữ tánh thanh liêm, dạy dân lễ nghĩa, hồi đầu tỉnh ngộ lo tu, đời sau hưởng phước; còn gặp đường rủi là: làm quan chẳng dạ ngay vua, mạnh thế lộng quyền, hữu hoài soán nghịch chi tâm, chẳng giữ thanh liêm, hiếp dân, thâu hối lộ làm giàu, bức hiếp kẻ nghèo mà làm cự phú, chác sự oan gia trái chủ, thời phải bị sanh liễu hựu tử, tử liễu hựu sanh, luân hồi chẳng dứt.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nay gặp Trời ân xá lần ba, khuyên thiện nam tín nữ lo tu bồi đạo đức mà hưởng phước ngày sau, còn người mộ việc tu hành cũng thành Chánh quả.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nếu tu thời bỏ hết cuộc giàu sang vui sướng ở thế gian. Hãy biết thế gian, muôn việc đều giả, trăm kế cũng không.</FONT></P>
<P =THI><FONT size=3><FONT color=#0000ff><B>                   THI rằng:</B><BR>Khán đắc phù sanh nhứt thế KHÔNG,<BR>Điền viên sản nghiệp diệc giai KHÔNG.<BR>Thê nhi phụ tử chung ly biệt,<BR>Phú quí công danh tổng thị KHÔNG.<BR>Cổ ngữ vạn ban đô thị giả,<BR>Kim ngôn bá kế nhứt trường KHÔNG.<BR>Tiền tài thâu thập đa tân khổ,<BR>Lộ thượng huỳnh tuyền lưỡng thủ KHÔNG.<BR><B>                                 Quan Âm Như Lai</B></FONT></FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Sau đây, xin chép lại một bài Thánh Ngôn của Đức Quan Âm Bồ Tát dạy Đạo cho nữ phái, giáng cơ đêm 3-8-Nhâm Thìn (dl 21-9-1952), trích trong Thánh Ngôn Sưu Tập:</FONT></P>
<P =THI><FONT size=3><FONT color=#0000ff><B>                     THI:</B><BR>QUAN nam diện duợt chí từ bi,<BR>ÂM đức cứu dân mới đắc thì.<BR>BỒ đạo giềng ba thân nữ độ,<BR>TÁT giang đức cảnh thế nên ghi.</FONT></FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Hôm nay về cùng chư tín hữu phân ưu đạo hạnh, cũng nơi lòng ham mộ cửa từ bi, để mong sao thoát kiếp oan khiên nghiệp chướng, do bởi thế trần tạo nhiều khổ cảnh, mà chúng ta mãi vướng cuộc trầm luân, thì bao giờ rời được cái thân nhi nữ thường tình, nếu không sớm lo giải cứu thì sau nầy hối hận, đừng nói sao trễ bước.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Công bấy nhiêu thì quả bấy nhiêu, chỉ có tâm nhiệt thành đạo hạnh thì cơ siêu thoát mới mong hưởng đặng.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Còn một điểm luyến trần, khó mong cứu độ, chừng ấy ăn năn quá muộn, quí nhứt là sớm ngộ Tam Kỳ mà không lo tròn phận sự thì uổng một kiếp sanh vô lối. Dầu khổ dầu cực, cứ lăn lóc theo cơ Đạo để tạo nghiệp cảnh Hư Vô chi vị.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nếu Bần đạo nói tận cùng, thiện tín phải kinh tâm mà chớ. Thật sự cõi trần là nơi giam hãm con người vào vòng trụy lạc, lại là kiếp khổ tái sanh.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Nếu không ngộ Tam Kỳ, ở Thiên cảnh ngó nơi trần thế, bắt ngậm ngùi cho thế. Chung quanh đều là ô trược để gạt và quyến rũ con người vào vòng tội lỗi, rồi phải chịu đọa luân hồi, khó mong nhìn thượng giới. Mãi bôn xu danh cùng lợi là điều buộc chặt linh hồn đó.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Dưới thế gian mượn nước gội sầu, chớ toàn đều nhơ uế. Cả Thần Tiên rất sợ cảnh trần nầy lắm, chỉ mượn cớ để giác ngộ, nếu hữu duyên thì tránh được, hầu bước qua cảnh mới, tức là siêu linh đó.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff size=3>Bần đạo cám ơn và ban ơn cho. THĂNG.</FONT></P>
<P =THAN1>( <FONT size=3>Trích Cao Đài Từ Điển )</FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=3> Chúc em hằng thăng tiến trên đường tu học !</FONT></P>
<P =THAN1><FONT size=3> Thân ái kính chào ! </FONT></P>
 

dieu my

New member
 <A name=4><SPAN style="FONT-WEIGHT: 700; FONT-SIZE: 10pt"><FONT color=#000000>4.- Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Ðền Thánh<BR>đêm 18 tháng 2 năm Kỷ Sửu (1949) - Vía Đức Quan Âm Bồ Tát .</FONT></FONT></SPAN></A>
<DIV align=center><SPAN style="FONT-WEIGHT: 700; FONT-SIZE: 14pt"><FONT color=#800000>Đức Quan Âm Thể Hiện cho Từ Hoà & Nhẫn Nại</FONT></SPAN></DIV><BR>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Hôm nay là ngày Vía Đức Quan Âm Bồ Tát, Bần Đạo đã thường nói nơi cửa thiêng liêng hằng sống, Đức Quan Âm Bồ Tát là một Đấng ở trong gia tộc sang trọng oai quyền hơn hết. Cái nguyên căn của Đức Quan Âm Bồ Tát do nơi pháp thân của Từ Hàng sản xuất. Quan Âm đến thời đó chỉ rõ cho chúng ta biết nguyên căn của mình, Quan Âm là cái thời gian của luật tạo Càn Khôn thế giới, ấy là một chơn linh rất cao trọng đó vậy, cũng như Đức Lý Thái Bạch là một chơn linh của ánh sáng. Hào quang Thái Cực khi đã hiện ra tức nhiên bóng đèn chúng ta ngó thấy khối lửa có ánh sáng kia tức nhiên là Đức Lý Giáo Tông.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Đức Quan Âm Bồ Tát đã cầm quyền nhứt thống oai nghiêm chẳng cần luận thuyết, cả thảy cùng đều biết cái quyền oai của Ngài vĩ đại như thế này, nhứt là phái nữ nên để ý bài giảng nầy cho lắm. Vả chăng, thời gian chúng ta, sẽ nói thời gian mà thôi, chúng ta phải kiên nhẫn và từ hòa, nếu chúng ta hấp tấp hay lật đật, thì chẳng hề khi nào chúng ta để thời gian đến trước mặt chúng ta đặng.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Chơn linh của Người tức nhiên thể tánh của Người, chứng tỏ rằng: một Đấng đã có 52 kiếp ở trong trái địa cầu 68 nầy, và có đảm nhận trọng trách lớn lao hơn hết, là buổi trái địa cầu nầy nó chưa có thoát xác của nó, là nó đầu kiếp lụng lại cho tới đệ tứ chuyển ngày nay. Đức Quan Âm Bồ Tát đã cầm quyền điều khiển trong Càn Khôn Vũ Trụ nầy từ thử đến giờ đã 52 kiếp.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Ngài đã đầu thai thế gian nầy mấy kiếp, vì có tánh đức từ hòa và tinh thần đạo pháp mà thôi, tỷ như Bạch Vân Hòa Thượng, Bạch Vân là ai? Bạch Vân là Ngài, ngày nay Ngài ở trong cửa Đạo, trong một cơ quan trọng yếu của Tam Kỳ Phổ Độ nầy.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Bạch Vân Hòa Thượng kiếp trước là Đức Quan Âm Bồ Tát đầu kiếp ở bên nước Tàu trước, rồi mới đầu kiếp ở bên xứ Việt Nam, ta kêu là Thanh Sơn Đạo Sĩ tức nhiên là Trạng Trình đó vậy, Thanh Sơn Đao sĩ dầu kiếp bên Pháp là Ralagode Bourgall, 52 kiếp có một kiếp trọng hệ có thâm tình với nòi giống Việt Nam ta hơn hết, chúng ta có hạnh phúc lắm, mới được Ngài đầu kiếp ở trong nước hai lần, lần thứ nhứt đầu kiếp làm người đàn bà tức nhiên Thị Kính, chúng ta đã biết Quan Âm là ai rồi. Bởi vậy cho nên buổi Tam Kỳ Phổ Độ nầy Đức Chí Tôn đã chọn lựa một Đấng cao trọng cho đến mặt địa cầu 68 nầy, có lẽ chúng ta đều biết danh Ngài hết, nhứt là Ngài lựa chọn một Đấng có thâm tình với nòi giống chúng ta hơn hết, cái tánh đức từ hòa yêu ái của Ngài, chúng ta đừng kiếm Đức Quan Âm đâu xa hơn là Thị Kính. Kiếm cái đức Thị Kính thế nào, thì tánh đức trạng thái của Quan Âm như thế ấy, tánh đức của Ngài là từ hòa nhẫn nhục, hiền lương, ân tha mọi điều oan khúc, chịu nổi thắng nổi thời gian là Đức Quan Âm. Đức Quan Âm chơn linh của Ngài là thời gian cho nên tánh đức của Ngài không bao giờ thối tâm ngã lòng hay bật rật, gấp rút, lật đật. Bà là người điềm tỉnh, bởi thế cho nên Bà đầu kiếp người ta vu oan đủ mọi điều, nhưng tánh đức từ hòa nhẫn nại của Bà vẫn chịu nổi đủ phương diện khổ não và oan khúc, chịu nổi thế tình ấy là một vị Trạng Sư đắc lực và oai quyền nơi cảnh thiêng liêng hằng sống bảo vệ cả nữ phái vậy. Chúng ta lấy làm hạnh phúc lắm Bần Đạo lấy làm mơ vọng và Bần Đạo nói quả quyết rằng: rất hạnh phúc cho chơn linh kẻ nào được gia tộc của Ngài, gia tộc vinh hiển tối cao tối trọng trên cửa thiêng liêng hằng sống, dầu bên cửa Thiên Oai hay là bên Cực Lạc thế giới cũng thế.</FONT></P>
<P><FONT color=#000080><SPAN style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Tahoma">Bần Đạo nói quả quyết rằng: Ngài là một Đấng Phật Mẫu yêu ái hơn hết, tôn trọng hơn hết.</SPAN></FONT></P>
<P><FONT color=#000080><SPAN style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Tahoma">Các em ơi ! vậy là Đức QUAN ÂM BỒ TÁT có hai kiếp giáng trần ở Việt Nam.</SPAN></FONT></P>
<P><FONT color=#000080><SPAN style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Tahoma">1 là Thị Kính ( ở Việt Nam chớ không phải ở Cao ly)</SPAN></FONT></P>
<P><FONT color=#000080><SPAN style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Tahoma">2 là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.</SPAN></FONT></P>
<P><FONT color=#000080><SPAN style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Tahoma">Diệu Mỹ. </SPAN></FONT></P>
<P align=right><A href="http://www-personal.usyd.edu.au/~cdao/booksv/LTDLichSuCongDuc/lichsucongduc1.htm#top" target="_blank"><IMG height=20 alt="Top of Page" src="http://www-personal.usyd.edu.au/~cdao/booksv/LTDLichSuCongDuc/but_top.gif" width=100 border="0"></A></P>
 

hongthanh

New member
 Em muốn được nghe thêm nữa,máy anh mấy chị biết thì xin hãy nói cho em nghe đi.Đay là sự tích Quan Âm thành phật rôùi vậy không biết đức Nhiên Đăng là ai,đứ Thích Ca là ai Đức Nhiên Đăng và Đức Di Đà có khác nhau hay không xin máy tỷ mấy huynh hay chỉ gúp cho đệ biết .Hôm nay em mới biết sự hiểu biết của mình chẳng là gì cả đúng không .Làn này em muốn dựoc nghe về Phật Giáo còn lấn sau em sẽ hỏi về tiên giáo, nho giáo và Thiên Cháu giáo,không biết là em có làm phiền mấy vị hay không nhưng mà em thành tâm muốn biết về lịch sử,sựh tích thành đạo mà các vị thánh nhân đã được Đ Đ T K P Đ thờ,monmg mấy anh mấy chị thông cảm và cho em được toại nguyện .
 

dieu my

New member
<P> </P>
<P> </P>
<P>   Chào em.</P>
<P>Chị không biết lịch sử Đức NHIÊN ĐĂNG CỔ PHẬT và Đức DI LẠC VƯƠNG PHẬT , nhưng chị dám chắc rằng đó là hai người khác nhau.</P>
<P>Còn đây chị xin gởi cho em bài thuyết đạo của ĐỨC HỘ PHÁP  nói về Đức QUAN THÁNH ĐẾ QUÂN ,  và ĐỨC CHÚA JÊSU.  Em đọc nhé :</P>
<P><A name=5><SPAN style="FONT-WEIGHT: 700; FONT-SIZE: 10pt"><FONT color=#000000>5.- Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Ðền Thánh<BR>thời Tý đêm 24 tháng 6 năm Mậu Tý (dl. 30-07-1948) </FONT></FONT></SPAN></A></P>
<DIV align=center><SPAN style="FONT-WEIGHT: 700; FONT-SIZE: 14pt"><FONT color=#800000>Lịch Sử Quan Thánh Ðế Quân</FONT></SPAN></DIV>
<P><BR> </P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Hôm nay là ngày vía <B>Ðức Cái Thiên Cổ Phật Quan Thánh Ðế Quân</B> tức Hớn Thọ Ðình Hầu Quan Vân Trường nhà Hớn đời Tam Quốc.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Một vị Hiển Thánh đời Hớn, thời Tam Quốc, ngày nay đạt phẩm vị đến Tam Trấn Oai Nghiêm trong nền Chánh Giáo của Ðức Chí Tôn, sự vinh hiển cao trọng đó ta thấy giá trị vô đối. Với một Ðấng Thiêng Liêng mà lập được vị mình một cách oai quyền vinh hiển ta thường thấy rất ít, thảng có chăng trong nước Việt Nam ta Ngài Trần Hưng Ðạo gọi có thể đương đầu với Ngài được mảy may chút ít mà thôi, chớ phần đông từ thử đến giờ kể cả các nước Á Ðông nầy hiếm có. Vậy, ta nên khảo cứu coi Ngài làm thế nào để đạt được Thiên vị vinh diệu đặc biệt dường ấy.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Hớn Thọ Ðình Hầu Quan Vân Trường buổi nọ là một vị tướng của Thục tức của Lưu Bị. Ta thấy đại nghĩa của Ngài <B>trung</B> can <B>nghĩa</B> khí của Ngài nhứt là về bằng hữu chi giao, tình nghĩa đối với bạn hữu của Ngài, dám chắc dầu chúng ta dân tộc Việt Nam hằng chịu ảnh hưởng văn hóa của Nho Tông, chưa có được người nào đã giống như Ngài vậy. Tâm trung nghĩa chẳng vì sang mà theo Tào, chỉ chuộng Hớn; nghĩa chẳng vì bạn buổi khổ não truân chuyên mà phụ rãy tình nhau; trung và nghĩa ấy hi hữu. Nói đến chí khí của Ngài, Bần Ðạo tưởng luận không hết: Ngài bất sát hạ mã chi nhơn. Truyện sách lưu lại rằng Ngài suýt bị Hạ Hầu Ðôn giết vì nó biết cái sở yếu của Ngài mà lợi dụng, nếu không Trương Liêu đến cứu. Mỗi phen Ngài trở cây Yểm Nguyệt Thanh Long Ðao định vớt nhà nớ, thì nhà nớ nhảy xuống ngựa, chí khí đó thế gian hi hữu. Hỏi Ngài lập chí với bộ sách Xuân Thu mà thôi. Người sau có tặng cho Ngài đôi liễn: <I>"Chí tại Xuân Thu, công tại Hớn; Trung đồng nhựt nguyệt nghĩa đồng thiên".</I> Trọn đời Ngài không lúc nào rời bộ sách ấy, lúc nào cũng đọc lấy tinh thần của sách suy luận làm tinh thần của mình.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Kể từ Ðào Viên kết tình bằng hữu cùng nhau, từ thuở bần hàn cho đến khi vinh huê phú quý sang trọng Ngài vẫn một mực không hề thay đổi tâm đức bao giờ. Tinh thần của người ấy là tinh thần đứng riêng biệt một mình một cảnh giới mà thôi. Thế gian khó tìm thấy một kiểu vở thứ hai nữa đặng. Tinh thần của Ngài có oai quyền đặc sắc, ta thử tìm coi Ngài làm sao mà đặng như vậy?</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Nguơn linh của Ngài là Xích Long Tinh. Buổi nọ dân Bắc Hớn phạm Thiên điều bị Ngọc Hư Cung phạt hạn không cho mưa, đặng cho dân ấy phải đói. Dân làng biết mà cầu nguyện nơi Ngài cứu nạn. Ngài cũng thừa biết dân ấy bị Thiên điều hành pháp, nhưng vì lòng ái tuất thương sanh không nỡ để dân chết đói, nên Ngài làm mưa. Ngọc Hư Cung bắt tội sai Ngũ Lôi tru diệt. Ngài chạy trốn vào một cái chùa, nhờ ông thầy chùa lấy chuông úp lại. Vị Ðạo Nhơn có căn dặn Bổn Ðạo trong chùa đừng ai dở chuông cho đến ngày nào Ngài hết hạn. Chư Ðạo trong chùa tọc mạch dở ra xem coi vật gì, thành thử Ngài phải chịu đầu kiếp, kiếp ấy là Hạng Võ.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Hạng Võ thì ai cũng biết. Nếu ta quan sát trong "Trọng Tương vấn Hớn" thì rõ tiền căn Hạng Võ, hậu kiếp Quan Công. Bởi Hớn Bái Công khi lập quốc rồi nghe lời Lã Hậu diệt công thần giết Hàn Tín. Án ấy nằm dưới Phong Ðô mấy đời mà không ai xử đặng. Buổi ấy có thầy Trọng Tương là học trò khó nhà nghèo nhưng rất hiếu hạnh. Cha chết Trọng Tương cất nhà mồ thờ cha mà ở. Thường hay buồn than thân trách phận biết mình hữu tài vô mạng nên viết một bài thi có ý than rằng: "Thiên địa hữu tư, thần minh bất công" dụng ý trách điểm cái án nhà Hớn mà dưới Phong Ðô xử chưa có nổi. Vì vậy nên mắc tội phạm thượng, bị bắt hồn dẫn đến Phong Ðô, đem cho Thập Ðiện Diêm Quân vấn tội. Trọng Tương bình tỉnh trả lời rằng: "Nếu cho tôi ngồi làm Thập Ðiện Diêm Vương tôi xử án ấy cho mà coi". Thập Ðiện Diêm Vương bằng lòng. Ngài xử: "Tiền căn báo hậu kiếp, như Bành Việt cho đầu kiếp làm Lưu Bị, Anh Bố làm Ngô Tôn Quyền, Hàn Tín làm Tào Tháo, Hạng Sư làm Nhan Lương, Hạng Bá làm Văn Xủ, Hạng Võ làm Quan Công".</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Ta thấy hồi sáu tướng của Hạng Võ đem lòng phản bội, đầu nhà Hớn rượt Hạng Võ đến bến Ô Giang phải cắt đầu, trao cho Ðình Trưởng, chú là Hạng Bá trở lại phản cháu đã đầu lụy Hớn Bái Công còn trở lại phạt Sở. Tiền căn hậu kiếp vay trả, quả báo y nhiên. Có một điều lạ là với Lữ Mông, oan nghiệt có khác. Tiền kiếp của Lữ Mông là ông thợ rèn, Quan Vân Trường đến mướn rèn Thanh Long Ðao với một kiểu mẫu bí mật mà Ngài không muốn có người thứ nhì biết đặng. Khi rèn xong, Ngài cầm ra sân đi thử đường đao, chợt nghĩ đến điều ấy liền day lại vớt ông thợ rèn đứt đoạn. Ông thợ rèn ấy sau đầu kiếp làm Lữ Mông. Cho nên buổi Ngài xuất thần qui vị là trả cái ngày giết ông thợ rèn, là Lữ Mông đầu kiếp trả báo giết Ngài.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Khi Chơn linh của Ngài xuất ngoại, Châu Xương và Quan Bình cũng tự tử chết theo, ba người ấy bay giữa không trung, đi ngang ngôi chùa kêu ông thầy chùa là Phổ Tịnh đòi ông nọ trả cái đầu, ông bèn lấy cái quạt gõ trên cửa tụng ba phiến vãng sanh, Ngài hạ giáng xuống tiếp đòi đầu nữa. Ông nọ cười nói rằng: "Nhan Lương, Văn Xủ kia mới đòi đầu với ai? Ấy là tiền căn báo hậu kiếp thôi chớ". Ðức Quan Thánh Ðế Quân tỉnh ngộ, xin ông Phổ Tịnh cho Ngài ở đó đặng tu, Chơn linh của Ngài nhờ ở nơi chùa đó mà hiển Thánh. Khi hiển Thánh rồi Ngài trừ tà diệt quỉ, cứu độ sanh linh, và từ đó đến bây giờ không tái kiếp lần nào nữa, duy dụng cái quyền hành thiêng liêng mà hành Ðạo thôi. Với quyền thiêng liêng ấy mà <I>Ngài lập được Phật vị là Cái Thiên Cổ Phật, nhờ vạn linh tôn trọng Ngài lên. Bần Ðạo dám quả quyết Ngài không phải là Thiên Phong mà chính là người của vạn linh bầu cử.</I> Cho nên Ðức Chí Tôn mở Ðạo là cơ quan hiệp nhất vạn linh, để Ðấng ấy là một Trấn Oai Nghiêm đặng làm quan Trạng Sư cho vạn linh đạt kiếp.</FONT></P>
<P><FONT color=#000080><SPAN style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Tahoma">Bần Ðạo tưởng nếu có sự công chánh ở Tòa Hư Linh kia ta nên gọi điều ấy là điều công chánh đệ nhứt mà Chí Tôn quyết định vậy. Nên <I>Hớn Thọ Ðình Hầu lập thiêng liêng vị với Chơn linh của mình đặng. Ðó là chỉ rõ cho cả con cái của Thầy biết rằng không phải chết là hết, chết ấy là sống, mà cái sống nơi Thầy mới oai quyền chơn thật hơn cái sống hiện tại thế nầy.</I></SPAN></FONT></P>
<P><FONT color=#000080><SPAN style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Tahoma"><EM>DIỆU MỸ </EM></SPAN></FONT></P>
 

dieu my

New member
 <A name=6><SPAN style="FONT-WEIGHT: 700; FONT-SIZE: 10pt"><FONT color=#000000>6.- Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo Tại Ðền Thánh<BR>đêm 14 tháng 11 năm Ðinh Hợi (1947).</FONT></FONT></SPAN></A>
<DIV align=center><SPAN style="FONT-WEIGHT: 700; FONT-SIZE: 14pt"><FONT color=#800000>Sự Tích Ðức Chúa Jésus Giáng Sanh</FONT></SPAN></DIV><BR>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Ngày hôm nay chúng ta tính từ ngày đã đúng 1947 năm của Chúa Cứu Thế, tức Ðức Chúa Jésus Christ ở làng Nazareth xứ Palestine vâng mạng lịnh Ðức Chúa Trời, tức là Ðức Chí Tôn, đến độ rỗi các sắc dân Âu Châu. Chúng ta quan sát và chính Bần Ðạo quan sát thấy chơn truyền của Ðạo Thánh Gia Tô vẫn đồng căn đồng bổn với Ðạo Phật, ấy là Phật Giáo Hạ Thừa, không có chi khác, dầu Bí Pháp chơn truyền hay Thể Pháp đều cũng y như vậy.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Thảng từ thử đến giờ, có thuyết chia rẽ tinh thần, là tại nơi người phàm, đem thuyết ấy để trong sự tín ngưỡng của sắc dân Âu Châu nên mới có sự chia rẽ nòi giống. Vì nạn ấy mà chúng ta ngày nay thấy trên mặt toàn cầu nòi giống chịu nạn tương tàn, tương sát nhau.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Bần Ðạo xin thuyết cái nguyên căn của Ðức Chúa Jésus Christ là gì?</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Thỉnh thoảng rồi Bần Ðạo sẽ đem nguyên căn của Thánh Giáo Gia Tô thuyết minh ra cho cả thảy nam nữ đều rõ biết.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Ðức Chúa Jésus Christ là ai? Nếu chúng ta thấy chơn truyền của dân tộc Nébreux tức dân Do Thái bây giờ để lại, theo luật pháp của Thánh Moise đã tiên tri nói về Ðấng Cứu Thế giáng sanh, nếu chúng ta tìm tòi, lật từ tờ trong Kinh Thánh Gia Tô chẳng hề thấy tên Christ và chẳng có tên Christ mà nơi cõi thiêng liêng Bần Ðạo dám chắc Ðức Chúa Jésus Christ là Chơn linh Christna là Tam Thế Tôn đó vậy.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Ðức Phật Christna không phải xa lạ với chúng ta, bởi vậy cho nên Ngài đã đến mà tại đến với chức trách nhỏ nhen hèn hạ, bởi loài người quá tự kiêu, tự đắc, dùng phương pháp nhỏ nhen, hạ mình hèn hạ ấy hầu đem tâm hồn chí Thánh của Ngài thức tỉnh các sắc dân Âu Châu. Ngài đến nơi một nhà bần hèn. Bần Ðạo xin nói rằng: Ngài đến nhà của bà Maria cốt yếu là một bà tu trong Ðền Thánh Jérusalem, ông Joseph cũng người tu trong Ðền Thánh. Luật của Ðền Thánh buộc hễ con gái đến tuổi cập kê cho ra xuất giá. Năm ấy cô Maria tức là một cô Ðạo nữ, chúng ta nói là một Ni Cô ở Ðền Jérusalem, đến tuổi lấy chồng. Phép Ðền Thánh buộc mấy Thầy tu trong Ðền Thờ phải có người đứng ra cưới, bởi vì chiếu theo lời Chí Tôn căn dặn nhủ lời Ngài nói với Adam và Eve buổi nọ: "Unissez vous et multipliez". (Bây phải chung sống cùng nhau đặng biến sanh ra nhiều nữa.)</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Lễ tuyển chọn chồng cho bà Maria, theo luật Ðền Thánh buộc mỗi vị nam lựa bông để trong Ðền Thánh 3 ngày, nếu bông ấy còn tươi tắn thì được cưới.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Hại thay! Có nhiều kẻ trẻ trung, còn ông Joseph buổi nọ đã quá 50 tuổi cũng phải chịu theo luật cưới ấy. Nếu chúng ta nói đến hoa khôi lịch sắc thì bà Maria cũng có thể kể vào hạng đó. Mới tới tuổi cập kê mà sắc đẹp ấy làm biết bao nhiêu kẻ nam nhi ước vọng. Ông Joseph cũng như mọi người đem bông đến Ðền Thờ chịu trách nhiệm tuyển chọn ấy. Người tìm bông nầy, bông kia. Còn ông, ông tính mình đã già rồi, vợ con mà làm chi, nhưng luật Hội Thánh buộc không làm ắt có hình phạt hoặc quì hương chẳng hạn (Cười...). Bước ra khỏi Ðền Thánh, ông thấy bông huệ khô héo của ai bỏ, ông lượm lấy đem cậm vào bình, không ngờ thứ huệ rất nên kỳ lạ, những bông nụ nở rồi nó rụng đi, còn bông búp bắt hơi nước sống lại, nở tươi đẹp, còn các thứ hoa khác tàn rụi hết ông phải chịu phép cưới cô Maria.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Hại thay! Nhà tu nếu làm lễ cưới rồi phải ra khỏi Ðền Thánh, mà đôi vợ chồng ông đều tu không gia đình, không nhà cửa, không phương sanh sống, thật rất nên thê thảm.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>May thay! Lúc còn ở Ðền Thánh, ông Joseph làm thợ mộc. Ông giỏi nghề mộc lắm. Ông mới bàn tính, bây giờ vợ chồng nghèo dắt nhau ra ngoài làm ăn, chồng làm thợ mộc, vợ may vá mà bà Maria về nữ công rất hay, khéo nghề đan (tricoter) nhờ vậy tìm sự sanh sống cũng tạm được đầy đủ.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Thảng mãn ngày qua tháng lại, hạ sanh con đầu lòng là Jésus. Hai vợ chồng nuôi con với phương tiện nghèo khổ, nhứt là ngày hôm nay là ngày sanh của Ðức Jésus Christ còn để lại dấu tích cho chúng ta thật đáng để ý hơn hết. Ðêm lễ Noel trong Ðền Thánh làm lễ long trọng như chúng ta làm lễ hôm nay vậy, hai vợ chồng đi lại từ làng Nazareth vô Ðền Thánh làm lễ. Khi đó bà đã có thai gần ngày sanh, nghĩ mình đã có căn tu, đến ngày Ðại Lễ không thể ở nhà được, bụng mang dạ chửa, cũng rán đi đến chầu lễ thường lệ. </FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Ở Châu Thành nhà cửa bị thiên hạ mướn chật hết, kiếm không ra chỗ ngụ, không lẽ ở ngoài trời, mới vô năn nỉ chúng cho ở trong chuồng chiên tạm trú. Trời đang tiết Ðông thiên, như ngày nay chúng ta nghe cũng hơi lạnh, lạnh lẽo lạ lùng nhứt là đối với hai người tâm Ðạo nầy vô ngủ trong chuồng chiên rất khổ sở. Ðúng 12 giờ khuya đêm ấy bà chuyển bụng sanh ra Ðức Chúa Jésus Christ.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Trong sách nói, ngày Chúa Giáng Sanh, có vì sao gọi là sao chổi mọc không gì khác lạ, đó là Comete de Halley, mỗi 75 năm mọc trở lại một lần. Các vị Vương tiên tri rằng: "Ngày nào sao chổi ấy mọc là ngày Chúa giáng sanh nên nhớ để dạ tìm người". Có nhiều huyền diệu ta không thể tưởng tượng được như đám chăn chiên đóng trại ngoài trời, bổng nghe giữa thinh không có nhiều Thiên Thần kêu nói có Chúa Cứu Thế giáng sanh, nên Vua của dân Maures và các người chăn chiên ấy vô đảnh lễ Chúa đầu tiên hơn hết.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Tai hại thay! Thời buổi đó nước của dân Juifs bị Ðế quốc Romains chiếm làm thuộc địa, ở Palestine thì để một vị Chánh Soái là Hérode Antivas hằng để tâm mưu sát Ðấng Chúa Cứu Thế, vì có tiên tri nói đến làm Vua nước Do Thái, nên ngay từ buổi đến trấn nhậm Palestine chính Hérode đã giết ông Thánh Saint Jean Baptiste.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Buổi ấy các nhà tiên tri cho biết Ðức Chúa Cứu Thế sanh ngày đó mà không biết Ðấng Chúa Cứu Thế là ai? Muốn giết, mà không biết ở đâu? Nên bắt tất cả con nít sanh trong đêm ấy ra giết hết, đinh ninh rằng: Trong đám đó có lẽ có Ðấng Chúa Cứu Thế. Ai dè may thay! Ông Joseph đêm mệt mỏi nằm mộng thấy Thiên Thần mách bảo, liền bồng đứa trẻ trốn qua Egypte. Hai vợ chồng đào tẩu kịp chớ không thì Chúa cũng đã bị giết rồi.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Qua Egypte một thời gian, đứa con lên được lên 5, 6 tuổi, nghe tin bên nước mình đặng yên và có lịnh thiêng liêng truyền dạy hai vợ chồng trở lại Palestine, chồng làm thợ mộc theo nghề cũ, vợ may vá nuôi con, lại sanh thêm ba bốn người con trai, gái nữa, thành thử cách sống rất nghèo hèn khổ não, từ cái đường sông Jourdain Ðức Chúa để bước đội nước mỗi ngày giúp mẹ cùng kiếm công một hai cắc.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Buổi nọ là lúc đã trộng rồi, được 12, 13 tuổi, theo cha học làm thợ mộc, ông chỉ đâu làm đó. Khi đó ông Joseph lãnh làm nhà của người ta, rủi cắt làm sao mấy cây cột lỡ cụt hết người chủ bắt đền không biết liệu làm sao? Nhà nghèo tiền đâu mua cột khác đặng bồi thường. Ông ngồi khóc ròng, đoạn Chúa mới cầu nguyện rồi cha một đầu con một đầu nắm kéo nhẵng ra cho đủ thước đặng bồi thường cho đủ, bằng không thì chỉ có ở đợ mà trừ. Thiệt lạ lùng thay và huyền diệu thay, đó là Ðấng Christ hành pháp lạ lần thứ nhứt.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Trong năm 12 tuổi là năm kéo cột đó, Jésus vô Ðền Thờ, buổi nọ chơn linh Ðức Christna giáng hạ, các vị Giáo Chủ trong Ðạo toàn là những bác sĩ nghe tiếng đồn danh thần đồng của Chúa Jésus nên khi vô Ðền Thờ, họ xúm nhau lại vấn Ðạo, Ðức Christna giáng linh, ngồi giữa các vị Giáo Chủ ấy, thuyết đạo làm cho thiên hạ ngạc nhiên sự lạ. </FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Hai vợ chồng buổi nọ đi chầu lễ Sablat vô Ðền Thánh cúng rồi về, dòm lại Ðức Chúa đâu mất, hỏi ai nấy có thấy Jésus không? Hai ông bà tìm kiếm mãi cũng không thấy con, sợ sệt, hơ hãi chạy trở lại Ðền Thờ, thấy Jésus ngồi giữa, các bác sĩ, Giáo Chủ đó ngồi chung quanh đương vấn Ðạo.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Bữa nọ vì tình cờ, tuy vân lúc còn ở trong Ðền Thánh Bà có được truyền tin rằng: Bà sẽ cho loài người nơi mặt thế nầy, bởi nơi lòng Bà xuất hiện ra Ðấng Chúa Cứu Thế, tuy đã biết trước như vậy, nhưng vì chạy kiếm con không thấy, vừa mệt, vừa sợ sệt đến khi tìm gặp, thấy con ngồi thuyết Ðạo, đã có lòng phiền, bèn kêu Chúa nói: "Sao con làm cho Mẹ khổ não kiếm con lắm vậy". Ðức Chúa liền nói: "Bà kia, bà không biết tôi đang làm phận sự của Cha tôi biểu phải làm hay sao?". Bà mới tỉnh, tự hiểu biết, nên phiền Ðức Chúa vì lời nói đó. Từ đó khi Chúa về nhà thì cũng như mọi đứa trẻ khác, cũng đi đội nước, cũng đục đẽo làm thợ mộc phục tùng cha mẹ hiếu hạnh đủ điều.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Trong nhà em út bất hòa, còn ông Jésus hiền lắm tánh hay nhịn nhục nên mấy người em thường hay ăn hiếp. Ở nhà không yên, ông đi làm thợ lấy tiền về nuôi cha mẹ lây lất qua ngày.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Ðến năm 30 tuổi nghe Saint Jean Baptiste truyền giáo tại bờ sông Jourdain, cũng trong lúc đó, Ðức Chúa đến gặp ông đang giải oan cho thiên hạ. Khi vừa thấy Ðức Chúa ở xa xa đi đến thì ông đã biết là Ðấng Chúa Cứu Thế, mới nói: "Từ sáng đến giờ tôi chỉ chờ có một người nầy thôi". Ðức Chúa đến thọ giáo nơi ông Thánh Saint Jean Baptiste và chịu phép Giải Oan của Ngài. Trong buổi vừa hành pháp xong, Ðức Chúa ở bờ sông Jourdain vừa bước lên thì trên không trung hiện ra hào quang sáng suốt, hiện ra giống như chim bồ câu trắng (colombe) sa giữa đầu Chúa, ngay giữa thinh không có tiếng nói: "Nầy con yêu dấu của Ta, cả ân đức của Ta để cho Ngươi đó ". Từ ngày đó Ðức Chúa Jésus là chơn linh Ðấng Christna giáng hạ cho nên đi truyền giáo nơi nào, chơn linh Ngài không phải như ngày sanh nhựt nữa, mà đã biến thành Chí Thánh vậy. Ngài là chơn linh Thánh sống trước mắt cả thiên hạ đạt cả Ðạo Giáo, Ngài quan sát nơi mặt thế nầy, Ðức Jésus Christ không kém hơn ai trong hàng Giáo Chủ. Ngài để nhứt tâm lẫn truất thương sanh, yêu ái người thật nồng nàn chơn chất. Ðức Thích Ca thế nào thì Chúa thế ấy. Bởi cớ thiên hạ thương mến nghe theo Ðạo Giáo của Ngài. Dân Juif các vì Giáo Chủ buổi nọ, luôn các vua chúa Palestine, thấy Ðức Chúa Jésus Christ thuyết Ðạo Giáo có một chí hướng chơn truyền phản khắc với tôn chỉ của họ, họ oán ghét, tìm phương giết Chúa, đến đầu cáo với César rằng: "Người ấy mưu cuộc phản loạn đem bọn Juif ra khỏi sự thống trị của chế độ Romain", nhưng họ cáo đủ thứ cũng không được , vì Thánh đức của Chúa không thể phạm vào được. Họ lại tìm cách bài bác Luật Ðạo, tạo một ban tuyên truyền làm cho nhơn gian sợ di hại liên lụy không dám gần Chúa. Mấy Giáo Chủ (Caiphe) ấy bắt Jésus giao cho Nguyên Soái Pilate lên án tử hình. Tuyên truyền thế nào không biết cho đến ngày Lễ Pâques là ngày thả tù nhơn, có tên Barabbas là Tướng hung dữ, sát nhơn đủ tội lỗi mà toàn dân Juif đồng tha bổng, còn Ðức Chúa Jésus chúng không tha, lên án tử hình và đem ra giết, đóng đinh trên cây Thập Tự.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Cái chết của Jésus Christ là gì? Là Ngài đem xác Thánh trọng quí dâng cho Chí Tôn làm tế vật, xác Thánh chết trên Thánh Giá là Lễ Tế đồng thể với Tam Bửu của chúng ta dâng cùng Ðức Chí Tôn ngày nay đó vậy.</FONT></P>
<P =than1><FONT style="FONT-SIZE: 11pt" face=Tahoma color=#000080>Vậy, Ðức Chúa Jésus Christ đã làm con tế vật cho Ðức Chí Tôn đặng cứu chuộc tội lỗi của loài người, nhứt là các sắc dân Âu Châu, nên danh thể Ngài để hai chữ Cứu Thế chẳng có chi là quá đáng.</FONT></P>
<P><FONT color=#000080><SPAN style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Tahoma">Thật ra Ðấng Cứu Thế ấy là Tam Thế Chí Tôn giáng linh tức Christna tái thế.</SPAN></FONT></P>
<P><FONT color=#000080><SPAN style="FONT-SIZE: 11pt; FONT-FAMILY: Tahoma">DIỆU MỸ.</SPAN></FONT></P>
 

Từ Bi

New member
 Dạ em cảm ơn chị rất nhiều thưa chị,vậy thì theo các anh các chị ,Dức Phật Di Đà được ngươidf nhà phật tụng niệm hàng ngày với đức Nhiêng đăng có phải là một khỏngEm xin cảm ơn trước
 

dieu my

New member
<P>       </P>
<P> </P>
<P>        Chào em ,</P>
<P>Chị gởi cho em bài này , tư liệu này nằm trong quyển CAO ĐÀI TỰ ĐIỂN  của hiềnTài Nguyễn Văn Hồng bút hiệu Đức Nguyên :</P>
<P =THAN1>Theo Giáo lý và Kinh sách của Đạo Cao Đài thì:</P>
<P =THAN1><FONT color=#ff0000>■</FONT> Thời Nhứt Kỳ Phổ Độ, Đức Nhiên Đăng Cổ Phật giáng trần mở Phật giáo ở Ấn Độ ứng với đời vua Hiên Viên Huỳnh Đế bên Tàu. Ngài làm Chưởng Giáo Sơ Hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội.</P>
<P =THAN1><FONT color=#ff0000>■</FONT> Theo Di-Lạc Chơn Kinh thì, Đức Nhiên Đăng Cổ Phật hiện nay chưởng quản từng Trời Hư Vô Thiên, là từng Trời thứ 10, trên đó có Ngọc Hư Cung, là nơi họp Thiên triều của Đức Chí Tôn để chư Phật tạo định Thiên Thư, tận độ chúng sanh đắc qui Phật vị.</P>
<P =THAN1>Trong thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Phật A-Di-Ðà làm Chưởng giáo CLTG. Do đó, bài kệ U Minh Chung, câu 34 là: <I>"Nam mô Nhị Hội Long Hoa Hồng Vương Ðại Hội Di-Ðà Cổ Phật Chưởng giáo Thiên Tôn."</I> (Di-Ðà Cổ Phật là Ðức Phật A-Di Ðà xưa). Nay là TKPÐ, Ðức Phật A-Di-Ðà vâng lịnh Ðức Chí Tôn giao quyền Chưởng giáo CLTG cho Ðức Phật Di-Lạc. </P>
<P =THAN1>Đức Phật Thích Ca có giáng cơ ban cho hai bài kinh rất quan trọng là: Kinh Đại Tường và Di-Lạc Chơn Kinh.</P>
<P =THAN1>Hai bài kinh nầy cho chúng ta biết, Đức Phật Thích Ca đã giao quyền giáo hóa lại cho Đức Phật Di-Lạc trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, nên Đức Phật Thích Ca vào ngự nơi Kim Sa Đại điện trong Lôi Âm Tự, và Đức Phật Di-Lạc ngự tại Kim Tự Tháp ở kinh đô Cực Lạc Thế Giới nơi cõi thiêng liêng.</P>
<P =THAN1>Còn Đức Phật A-Di-Đà, trước đây là Giáo chủ CLTG, nay cũng giao quyền lại cho Đức Phật Di-Lạc, và Ngài cũng vào ngự nơi Lôi Âm Tự. <I>(Vào Lôi Âm kiến A-Di).</I></P>
<P =THAN1>Như vậy Đức Phật DI ĐÀ , Đức Phật Thích Ca , Đức Nhiên Đăng Cổ Phật là ba vị khác nhau em a.</P>
<P =THAN1>Diệu Mỹ.</P>
 

Facebook Comment

Top