<P> </P>
<P><FONT face="Times New Roman, Times, serif" size=4> ( tiếp theo ) <strong>Tìm hiểu ÂM và DƯƠNG lich.....</strong></FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4><strong> </strong>Hai mùa XUÂN HẠ vì mặt trời cách trái đất có 147.000.000 km. gần hơn các mùa còn lại, nên ngày dài <strong>-</strong> đêm ngắn. Trái lại, mùa THU - ĐÔNG mặt trời cách xa địa cầu tới 152.000.000 km , nên ngày ngắn - đêm dài. Trong khi làm lịch các nhà khí tượng học còn chia một năm thành 24 Tiết, mỗi Tiết gồm ba Hậu và mỗi Hậu lại có những diễn biến khác biệt , do ảnh hưỡng của địa dư, thời tiêt...tới sinh họat của động - thực vật tùy theo vùng. Tất cả các yếu tố trên, đều là căn bản của Lịch Vận Hậu.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> <strong><U>Lịch VẬN KHÍ</U> :</strong> Theo cách tính của các <FONT face="Times New Roman, Times, serif">nhà soạn Lịch Vận Khí, căn bản lấy Thiên Can và Giáp , Ất , Bính , Đinh , Mậu , Kỷ, Canh ,Tân , Nhâm , Quý <U>để làm Vận.</U> Lại chọn Địa Chi gồm 12 con Giáp : Tý, Sữu, Dần, Mẹo, Thìn , Tỵ , Ngọ, Mùi, Thân , Dậu , Tuất, Hợi , <U>để làm Khí</U> . Trong Trời đất có năm Vận : Kim, Mộc, Thủy, Hõa, Thổ , tương ứng với Thiên Can : </FONT></FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> - Giáp - Kỷ thuộc Vận Thổ </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> - Ất - Canh thuộc Vận Kim</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> - Bính - Tân thuộc Vận Thủy </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> - Đinh - Nhâm thuộc Vận Mộc </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> - Mậu - Quý thuộc Vận Hỏa. Ngòai ra, các năm thuộc Giáp , Bính, Mậu, Canh, Nhâm thuợc <U>Dương tính</U> , được các nhà làm lịch xếp vào <U>Vận Thái quá.</U> Ngược lại, các năm Ất, Đinh , Kỷ, Tân, Quý , được xếp vào <U>Âm tính,</U> gọi là <U>Vận Bất cập </U>. Lịch Vận Khí còn dựa vào 12 Chi ( Giáp ) gồm Tý , Sửu , Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi , Thân, Dậu , Tuất, Hợi để tìm Khí qua sự phối hợp với Ngũ Hành :</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> - Thân - Dậu hợp với Kim</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> - Dần - Mẹo hợp với Mộc </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> - Hợi - Tý hợp với Thủy</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> - Tỵ - Ngọ hợp với Hõa</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> - Thìn, Tuất, Sửu , Mùi hợp với Thổ.. </FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Căn cứ những ghi chép từ các tài liệu của y học cổ truyền , cơ thể con người chịu ảnh hưởng của Khí , theo từng mùa trong năm. Vận Khí bao gồm Chủ Khí, tức là ảnh hưỡng của bốn mùa theo Ngũ Hành như Xuân ứng với Mộc, Hạ ứng với Hõa , Thu ứng với Kim, và Đông ứng với Thủy. Bốn Tú Hành trên , sau khi vân chuyển đều quy về Thổ, trức la Trời Đất. Chủ Khí còn đại diện cho Ngủ tạng , trong cơ thể con người Thận, Can, Tâm , Tỳ , Phế. Còn Khách Khí thì ảnh hương đến Lục Phủ Lục Kinh gồm Thái Âm , Thiếu Âm, Quyết Âm ( Tam âm) và Tam Dương , là Thiếu Dương , Dương Minh và Thái Duong. Khách Khí họat động mỗi năm mỗi khác và tùy theo vị trí đang hiện diện, chẳng hạn như trên thượng tầng khí quyển là Tư Thiên, ở tầng khí quyển và trong lòng đất,là Tư Địa hay Tại Tuyền . Thật sự Vận và Khí chỉ là những khái niệm vô hình vô sắc nhưng lại có tác dụng rât quan trọng đối với đời sống nhan sinh trên địa cầu. Tóm lại, năm nào Vận và Khí cùng song hành vận chuyển , năm đó, trời đất ít có thiên tai , con người cũng không có nhiều bênh tât. Trái lại, những năm Vận và Khí tác động qua lại trong lúc vận chuyển sẽ gây ra tai biến dữ dội cho trai đất và con người ,</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> ll.- <strong><U>DƯƠNG LỊCH</U></strong> :</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> , Tính theo sự chuyển vận của mặ7 trời trên qu3y đạo ,từ lúc đi qua điển Xuân phân cho tới khi gặp lại nó,một vòng quay như vây phải mất 365 ngày , 5 giờ 48 phút 46 giây tức là 385,2422 ngay. Đấy là công trình nghiên cứu của nhà Thiên văn học S. Newcomb.</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Để xãc định được chiều dài mà mặt trời đã vân hành , con người phải tốn hết nhiều ngàn năm mới đạt được kết quả ngày nạy Buổi đầu người xưa căn cứ vào các hiện thời tiết , có liên quan tới mùa trong năm , lấy đó làm chu kỳ theop dõi. Nhờ vậy đã phỏng đoán được một năm có từ 300 -400 ngạy Tiếp theo người Babylon sống cách nay chừng 5000 năm đã xác định được một nam có 360 ngày, bằng cách đo bóng mặt trời vào lúc đứng bóng ( giữa trưa ) cũng bằng phương pháp này , người xưa đã tìm ra phép đo thời gian và tìm độ góc với hệ số 60 , xác định được vòng tròn có 360 độ, mỗi độ có 60m/m , mỗi phút co 60 giây. Trong khi đó người cổ Ai Cập lúc trị thủy trên dòng sông Nile, đã căn cứ vào chòm sao Thiên Lang ( Sỉius ) xác định được một năm có 635 ngày, chỉ sai với số kết quả ngày nay chừng 1 ngày trong 4 năm hay 1 tháng trong 120 năm mà thôi. Tuy nhiên kết quả này vẫn không được Tòa Thánh La Mã thời đó công nhận , vì cho rằng con sớ dư 0,25 ngày trong năm là đi ngược lại định luật của thiên nhiên , nên phải tới 2000 năm sau, vào thời Đại đế Cesar , người La Mã mới chấp lấy đó làm đơn vị soạn lịch. Từ đó Ai Cập theo gót La Mã , xác nhận kết quà của chính mình tìm ra. , Đến thế kỳ thứ XIII sau Tây lịch , con người gần như đo được độ dài vận chuyển của mặt trời la : 365.2425 ngày. Nhưng phải đợi tới Thế kỷ XVI Đức Giáo Hoàng Gregorius XIII tại Tòa Thánh La Mã mới ban quyết định lấy đó làm đơn vị căn bản để làm lịch, mà ngày nay vhu1ng ta gọi Dương lịch Gregorius.,được cả thế giới công nhận. . Nhưng từ thời Đại đế Cesar vào năm 45 trước Tây Lịch , con người cũng đã xác nhận được một năm có 365 ngày , trong đó định rõ các tháng Gỉ6ng, 3,5,7.8,10 va 12 có 31 ngày. Các tháng 4,6,9, và 11 chỉ có 30 ngày , đặc biệt chỉ có tháng 2 có 28 ngày. Vì có thặng dư mỗi năm là 5 giờ, 48 phút, 46 giây , nên 4 năm sẽ có, nên 4 năm sẽ có được một ngày. Vì vậy, theo Dương lịch cứ 4 năm lại tháng Hai nhuần 29 ngày</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Cuối cùng khi số ngày trong năm được công nhận là 365.2425 ngày, thì viếc soạn Dương lịch mới thật sự rắc rối. Để giải quyết , mọi người đều đồng ý là trong chu kỳ 400 năm phài 97 năm nhần thá Hai 29 ngày , thay vì 100 năm nhuận như trước đọ Đặc điểm của hệ Dương lịch là chỉ có ngày chứ không năm tháng , được liên tục ghi lại ngày bắt đầu từ 1-1-4713 trước Tây lịch tới thời điểm muốn tìm. Tác giả đã chọn giờ GMT ( Greenwich ) làm cột mốc để tính ngày, tức là muốn tìm ngày theo Julius, bắt buộa phải ra ngày giờ GMT, rồi mới căn cứ vào hai bảng đối chiếu có sẳn để tính ra. /-</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> _____________________</FONT></P>
<P><FONT face="Times New Roman" size=4> Nhẫn nại sưu tầm đến dây xin nhường cho lại cho quyền quý độc giả tìm hiểu thêm để bổ sung được phong phú. <U> </U></FONT></P>
<P> <FONT face="Times New Roman" size=4> </FONT></P>