Kính HTDM,
Dưới đây là Tân luật của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Bộ luật này được ban hành theo thủ tục đã quy định tại Pháp chánh truyền. Đã được Thiêng liêng ban hành.
TN trích đăng thành 3 phần, phần đầu tiên là Đạo pháp, phần hai là Thế luật và phần cuối là Tịnh thất.
Kính.
----------------------------------------------------------------------------------------------
ÐẠO PHÁP
CHƯƠNG I: VỀ CHỨC SẮC CAI TRỊ TRONG ÐẠO
CHƯƠNG II: VỀ NGƯỜI GIỮ ÐẠO
CHƯƠNG III: VỀ VIỆC LẬP HỌ
CHƯƠNG IV: VỀ NGŨ GIỚI CẤM
CHƯƠNG V: VỀ TỨ ÐẠI ÐIỀU QUI
CHƯƠNG VI: VỀ GIÁO HUẤN
CHƯƠNG VII: VỀ HÌNH PHẠT
CHƯƠNG VIII: VỀ VIỆC BAN HÀNH LUẬT PHÁP
Ðể tiện việc tham khảo chúng tôi thêm vào phần trên ÐẠO PHÁP
CHƯƠNG I:
VỀ CHỨC SẮC CAI TRỊ TRONG ĐẠO
Ðiều Thứ Nhứt:
• Trên hết có một phẩm GIÁO TÔNG là anh cả có quyền thay mặt cho Thầy mà dìu dắt cả tín đồ trong đường Ðạo và đường Ðời. Ðức Giáo Tông có quyền về phần xác, chớ không có quyền về phần hồn.
• Ðức Giáo Tông đặng phép thông công cùng Tam Thập Lục Thiên và Thất Thập Nhị Ðịa Giái mà cầu rỗi cho cả tín đồ.
• Chư tín đồ phải tuân mạng lịnh phẩm ấy.
Ðiều Thứ Nhì:
• Kế đó có ba vị CHƯỞNG PHÁP của ba phái là Nho, Thích, Ðạo.
• Ba vị ấy có quyền xem xét luật lệ trước buổi thi hành, hoặc của Giáo Tông truyền xuống, hoặc của Ðầu Sư dâng lên. Như hai đàng chẳng thuận thì phải dâng lên cho Hộ Pháp đến Hiệp Thiên Ðài cầu Thầy giáng xuống mà sửa lại.
• Ba vị ấy có quyền xem xét Kinh Ðiển trước khi phổ thông; như có Kinh Luật chi làm cho bại phong hóa thì ba vị ấy phải truất bỏ chẳng cho xuất bản.
• Mỗi Chưởng Pháp có ấn riêng. Ba ấn phải có đủ trên mỗi Luật mới đặng thi hành.
• Chưởng Pháp phải can gián sửa lỗi của Giáo Tông; nếu cả ba thấy lẽ vô đạo của Giáo Tông, có quyền đem đơn kiện nơi Tòa Thánh.
Ðiều Thứ Ba:
• Ba vị ÐẦU SƯ của ba phái có quyền cai trị phần Ðạo và phần Ðời của tín đồ.
• Ba vị ấy đặng quyền lập luật, song phải dâng lên cho Giáo Tông phê chuẩn. Ba vị ấy phải tuân mạng lịnh Giáo Tông truyền dạy. Như khoản Luật Lệ nào nghịch với sự sinh hoạt của nhơn sanh thì ba vị ấy được nài xin hủy bỏ.
• Như Luật Lệ nào Giáo Tông đã truyền dạy mà cả ba đều ký tên không tuân mạng thì Luật Lệ ấy phải trả lại cho Giáo Tông; Giáo Tông truyền lịnh cho Chưởng Pháp xét nét lại.
• Ba vị có ấn riêng nhau; mỗi tờ giấy chi chi phải có đủ ba ấn mới thi hành.
Ðiều Thứ Tư:
• Ba mươi sáu vị PHỐI SƯ, chia ra mỗi phái là 12 vị. Trong ấy có ba vị CHÁNH PHỐI SƯ.
• Ba vị ấy đặng thế quyền cho Ðầu Sư mà hành sự song chẳng quyền cầu phá luật lệ.
Ðiều Thứ Năm:
• GIÁO SƯ có 72 người, trong mỗi phái có 24 người. Giáo Sư là người để dạy dỗ chư tín đồ trong đường Ðạo và đường Ðời.
• Buộc Giáo Sư lo lắng cho chư tín đồ như anh ruột lo cho em.
• Giáo Sư cầm sổ bộ của cả tín đồ, phải chăm nom về sự tang hôn của mỗi người.
• Như tại châu thành lớn, Giáo Sư được quyền cai quản và cúng tế Thầy như thể Ðầu Sư và Phối Sư.
• Giáo Sư đặng quyền dâng sớ cầu nài về Luật Lệ làm hại nhơn sanh hay là cầu chế giảm Luật Lệ ấy.
• Giáo Sư phải thân cận với tín đồ như anh em một nhà cần lo giúp đỡ.
Ðiều Thứ Sáu:
• GIÁO HỮU là người để phổ thông chơn đạo của Thầy, đặng quyền xin chế giảm Luật Lệ đạo, đặng phép hành lễ khi làm chủ mấy cái chùa nơi mấy tỉnh nhỏ. Có 3.000 Giáo Hữu, mỗi phái 1.000, chẳng nên tăng thêm hay là giảm bớt.
Ðiều Thứ Bảy:
• LỄ SANH là người có hạnh, lựa chọn trong chư tín đồ mà hành lễ.
• Lễ Sanh đặng quyền đi khai đàn cho mỗi tín đồ.
• Phải vào hàng Lễ Sanh rồi mới mong bước qua hàng Chức Sắc.
Luật lệ lập Hội Thánh này vì chiếu theo Thánh Ngôn mà đem ra.
Ðiều Thứ Tám:
• Ðầu Sư muốn lên Chưởng Pháp thì nhờ ba vị công cử nhau.
• Phối Sư muốn lên Ðầu Sư thì nhờ 36 vị công cử lên.
• Giáo Sư muốn lên Phối Sư thì nhờ 72 vị công cử nhau.
• Giáo Hữu muốn lên Giáo Sư thì nhờ 3.000 vị xúm nhau công cử.
• Lễ Sanh muốn lên Giáo Hữu thì nhờ cả Lễ Sanh xúm nhau công cử.
• Ngôi Giáo Tông thì hai phẩm Chưởng Pháp và Ðầu Sư tranh đặng, song phải chịu toàn tín đồ công cử mới đặng.
• Kỳ dư Thầy giáng cơ ban thưởng mới ra khỏi luật lệ ấy mà thôi.
Luật lệ lập Hội Thánh này vì chiếu theo Thánh Ngôn mà đem ra.
CHƯƠNG II:
VỀ NGƯỜI GIỮ ĐẠO
Ðiều Thứ Chín:
• Muốn xin nhập môn phải có hai người đạo đức tiến dẫn đến người làm đầu trong Họ. Hai người tiến dẫn phải lo lắng chỉ biểu và dìu dắt người mới cho hiểu biết đạo lý.
Ðiều Thứ Mười:
• Mỗi Thánh Thất từ đây phải lập minh thệ. Còn ai mới vô Ðạo, nội ngày đem tên vào sổ phải ra đứng giữa đại điện thề liền.
• Buộc phải thuộc Kinh và thông hiểu Luật Pháp của Ðại Ðạo truyền ra.
Ðiều Thứ Mười Một:
• Người làm đầu trong Họ hay là Chức Sắc thay mặt cho mình phải đến làm lễ cúng khai đàn trấn thần an vị cho người mới vào Ðạo.
Ðiều Thứ Mười Hai:
Nhập môn rồi gọi là tín đồ. Trong hàng tín đồ có hai bực:
1. Một bực còn ở thế, có vợ chồng làm ăn như người thường, song buộc phải giữ trai kỳ họăc 6 họăc 10 ngày trong tháng, phải giữ Ngũ Giái Cấm và phải tuân theo Thế Luật của Ðại Ðạo truyền bá. Bực này gọi là người giữ Ðạo mà thôi; vào phẩm hạ thừa.
2. Một bực đã giữ trường trai, giái sát và tứ đại điều qui, gọi là vào phẩm thượng thừa.
Ðiều Thứ Mười Ba:
• Trong hàng hạ thừa, ai giữ trai kỳ từ mười ngày sắp lên, được thọ truyền bửu pháp, vào tịnh thất có người chỉ luyện Ðạo.
Ðiều Thứ Mười Bốn:
• Chức Sắc cai trị trong đạo từ bực Giáo Hữu sắp lên, phải chọn trong bực người thượng thừa mà thôi.
Ðiều Thứ Mười Lăm:
• Bực thượng thừa theo Ðại Ðạo buộc phải để râu, tóc. Ăn mặc thường. Phải dùng toàn đồ vải trắng, hoặc màu theo phái mình, song phải tùy tiện chẳng nên xa xí.
CHƯƠNG III:
VỀ VIỆC LẬP HỌ
Ðiều Thứ Mười Sáu:
• Nơi nào có đông tín đồ được chừng 500 người sấp lên, thì được lập riêng một Họ đặt riêng một Thánh Thất, có một Chức Sắc làm đầu cai trị.
Ðiều Thứ Mười Bảy:
• Sự lập Họ phải có phép Ðức Giáo Tông và phải do nơi quyền người.
Ðiều Thứ Mười Tám:
• Bổn đạo trong Họ phải tuân mạng lịnh của Chức Sắc làm đầu trong Họ, nhứt nhứt phải do nơi người, chẳng đặng tự chuyên mà trái Ðạo.
Ðiều Thứ Mười Chín:
• Một tháng hai ngày Sóc Vọng, bổn đạo phải tựu lại Thánh Thất sở tại mà làm lễ và nghe dạy. Trừ ra ai có việc được chế.
Ðiều Thứ Hai Mươi:
• Chức Sắc giữ Thánh Thất mỗi ngày phải làm tiểu lễ bốn lần theo Tứ Thời: Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu. Mỗi Thời phải cúng đúng 6 giờ sáng, 12 giờ trưa, 6 giờ tối và 12 giờ khuya.
• Ðổ một hồi chuông trước khi hành lễ. Trong mấy Thời này, bổn đạo muốn đến tụng kinh tùy ý.
CHƯƠNG IV:
VỀ NGŨ GIỚI CẤM
Ðiều Thứ Hai Mươi Mốt:
Hễ nhập môn rồi phải trau giồi giữ tánh hạnh, cần giữ Ngũ Giới Cấm là:
1. Nhứt Bất Sát Sanh, là chẳng nên sát hại sanh vật.
2. Nhì Bất Du Ðạo, là cấm trộm cướp; lấy ngang, lường gạt của người, hoặc mượn vay không trả, hoặc chứa đồ gian, hoặc lượm lấy của rơi, hoặc sanh lòng tham của quấy để ý hại cho người, mà lợi cho mình, cờ bạc gian lận.
3. Tam Bất Tà Dâm, là cấm lấy vợ người, thả theo đàn điếm, xúi giục người làm loạn luân thường, hoặc thấy sắc dậy lòng tà, hoặc lấy lời gieo tình huê nguyệt (vợ chồng không gọi tà dâm).
4. Tứ Bất Tửu Nhục, là cấm say mê rượu thịt, ăn uống quá độ, rối loạn tâm thần, làm cho náo động xóm làng, hoặc miệng ước rượu ngon, bụng mơ đồ mỹ vị.
5. Ngũ Bất Vọng Ngữ, là cấm xảo trá láo xược, gạt gẫm người, khoe mình, bày lỗi người, chuyện quấy nói phải, chuyện phải thêu dệt ra quấy, nhạo báng, chê bai, nói hành kẻ khác, xúi giục người hờn giận, kiện thưa xa cách, ăn nói lỗ mãng, thô tục, chưởi rủa người, hủy báng Tôn Giáo, nói ra không giữ lời hứa.
CHƯƠNG V:
VỀ TỨ ĐẠI ĐIỀU QUI
Ðiều Thứ Hai Mươi Hai:
• Buộc phải trau giồi đức hạnh giữ theo tứ đại điều qui là:
1. Phải tuân lời dạy của bề trên, chẳng hổ chịu cho bực thấp hơn điều độ. Lấy lễ hòa người. Lỡ làm lỗi, phải ăn năn chịu thiệt.
2. Chớ khoe tài, đừng cao ngạo, quên mình mà làm nên cho người. Giúp người nên Ðạo. Ðừng nhớ cừu riêng, chớ che lấp người hiền.
3. Bạc tiền xuất nhập phân minh, đừng mượn vay không trả. Ðối với trên, dưới đừng lờn dễ, trên dạy dưới lấy lễ, dưới gián trên đừng thất khiêm cung.
4. Trước mặt sau lưng, cũng đồng một bực, đừng kỉnh trước rồi khi sau.
• Ðừng thấy đồng đạo tranh đua ngồi mà xem không để lời hòa giải, đừng lấy chung làm riêng đừng vụ riêng mà bỏ việc chung. Pháp luật phải tuân, đừng lấy ý riêng mà trái trên dễ dưới. Ðừng cậy quyền mà yểm tài người.
CHƯƠNG VI:
VỀ GIÁO HUẤN
Ðiều Thứ Hai Mươi Ba:
• Trong Ðạo sẽ lập trường để dạy chữ và dạy Ðạo.
Ðiều Thứ Hai Mươi Bốn:
• Cách dạy và các việc sắp đặt trong trường sẽ có lập thể lệ riêng.
Ðiều Thứ Hai Mươi Lăm:
• Sau những người có giấy Tốt Nghiệp của nhà trường cho mới được dự cử vào hàng Chức Sắc trong Ðạo.
CHƯƠNG VII:
VỀ HÌNH PHẠT
Ðiều Thứ Hai Mươi Sáu:
• Trong bổn đạo ai có phạm luật pháp về mấy điều khoản nhẹ, thì về quyền người làm đầu trong Họ phân xử và đặng răn phạt quì hương tụng Kinh Sám Hối.
Ðiều Thứ Hai Mươi Bảy:
• Như phạm tội trọng hay là tái phạm, thì phải đệ lên cho Hội Công Ðồng phán đoán.
• Hội ấy một vị Ðầu Sư hay là Phối Sư phái mình làm đầu và có hai vị Chức Sắc hai phái kia nghị án. Hội nầy được quyền trục xuất.
Ðiều Thứ Hai Mươi Tám:
• Về đường đời bổn đạo có xích mích nhau, cũng phải đến cho người làm đầu trong Họ phân giải.
Ðiều Thứ Hai Mươi Chín:
• Chư Chưc Sắc, ai có phạm luật pháp trong đạo, thì đem trước Tòa Tam Giáo phân xử.
Ðiều Thứ Ba Mươi:
• Tòa Tam Giáo có Ðức Giáo Tông làm đầu. Ba vị Chưởng Pháp nghị án. Vị Ðầu Sư phái mình về phần dâng biểu buộc tội. Một chức sắc Hiệp Thiên Ðài làm trạng sư.
Ðiều Thứ Ba Mươi Mốt:
• Tòa này có quyền xử giáng cấp hay là trục xuất.
CHƯƠNG VIII:
VỀ VIỆC BAN HÀNH LUẬT PHÁP
Ðiều Thứ Ba Mươi Hai:
• Trong hạn 6 tháng, kể từ ngày ban hành luật pháp nầy chư tín đồ phải tuân y các điều lệ.
Ngoại trừ:
1. Những người làm nghề nghiệp phạm nhằm luật cấm thì được kỳ hạn một năm phải giải nghệ.
2. Những Chức Sắc chưa trường trai được kỳ hạn hai năm phải tập theo cho kịp.
• Kỳ dư luật lệ Thầy canh cải phải tuân theo, còn bao nhiêu phải tùy cựu luật.
THẾ LUẬT
• Ðiều Thứ Nhứt: Quan hệ giữa các Tín Ðồ - Thương yêu.
• Ðiều Thứ Hai: Quan hệ giữa các Tín Ðồ - Nhẫn nhịn và hòa thuận.
• Ðiều Thứ Ba: Giữ gìn Nhơn Ðạo - Tam Cang Ngũ Thường & Tam Tùng Tứ Ðức.
• Ðiều Thứ Tư: Quan hệ giữa Tín Ðồ và người ngoài Ðời.
• Ðiều Thứ Năm: Quan hệ giữa các Tín Ðồ - Giữ tình thân ái, tương tế.
• Ðiều Thứ Sáu: Việc hôn nhơn - Chọn người hôn phối.
• Ðiều Thứ Bảy: Việc hôn nhơn - Bố cáo đính hôn.
• Ðiều Thứ Tám: Việc hôn nhơn - Lễ chứng hôn.
• Ðiều Thứ Chín: Việc hôn nhơn - Cưới hầu thiếp.
• Ðiều Thứ Mười: Việc hôn nhơn - Ly hôn.
• Ðiều Thứ Mười Một: Về ấu nhi - Cha mẹ đỡ đầu.
• Ðiều Thứ Mười Hai: Về ấu nhi - Lễ Tắm Thánh.
• Ðiều Thứ Mười Ba: Về ấu nhi - Giáo dục.
• Ðiều Thứ Mười Bốn: Việc tang chế - Tương tế giữa các Tín Ðồ.
• Ðiều Thứ Mười Lăm: Việc tang chế - Lễ Cầu Siêu.
• Ðiều Thứ Mười Sáu: Việc tang chế - Tổ chức tang lễ.
• Ðiều Thứ Mười Bảy: Việc tang chế - Cúng tế.
• Ðiều Thứ Mười Tám: Việc cầu siêu trong tuần cửu Cửu, Tiểu tường và Ðại tường.
• Ðiều Thứ Mười Chín: Quan hệ giữa các Tín Ðồ - Tương trợ khi hoạn nạn.
• Ðiều Thứ Hai Mươi: Qui định nghề nghiệp, sinh kế của các Tín Ðồ.
• Ðiều Thứ Hai Mươi Mốt: Sinh hoạt của nguời Tín Ðồ - Ăn mặc cần kiệm.
• Ðiều Thứ Hai Mươi Hai: Quan hệ giữa các Tín Ðồ - Khuyên giải và khuyến dạy người phạm Thế Luật của Ðạo.
• Ðiều Thứ Hai Mươi Ba: Quan hệ giữa các Tín Ðồ - Nhiều lần tái phạm Thế Luật của Ðạo.
• Ðiều Thứ Hai Mươi Bốn: Hội Công Ðồng phán xét những Tín Ðồ nhiều lần phạm Luật.
Ðể tiện việc tham khảo chúng tôi thêm vào phần trên đây. Nguyên bản của Hội Thánh không có.
(Nguồn: Internet)