trần văn chí
New member
NGHINH PHONG ĐÀI (tt).
ĐỊNH LÝ THỜI GIAN.
“Thể kỷ 120 năm”.
“Thể kỷ 120 năm”.
Trong lễ đưa Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật triều thiên đêm 24-12-Ðinh Hợi (1948). Đức Hộ Pháp có thuyết giảng tại Ðền Thánh:
Thỏn mỏn mà ngày nay là ngày 23 tháng Chạp năm Ðinh Hợi, đây tính lại từ ngày Bần Ðạo về nước đến nay được 17 tháng, được ăn hai cái Tết của quê hương sau 5 năm bị đồ lưu nơi hải ngoại....
...Chơn truyền buổi Ðức Chí Tôn tạo Càn Khôn Thế Giái, Ngài nắm Thập Thiên Can, Thập Nhị Ðịa Chi trong tay, để định Pháp Chánh Càn khôn Vũ trụ. Trong thời buổi định Pháp Chánh ấn định vào khoảng từ ngày 23 đến 30 sáng mồng 1, họp tại Ngọc Hư Cung đặng định luật giới hạn vi diệu cho trái địa cầu, chạy theo khuôn khổ hữu định trong năm cho chí Tân niên là 12 giờ đêm 30, khởi điểm 1 giờ sáng ngày 1 tháng Giêng năm sau....
...Nơi Ngọc Hư Cung định Pháp Chánh cũng như trong Càn Khôn Vũ Trụ là: 12 tháng một niên, 12 niên một giáp, 120 năm một thế kỷ (tất cả đều cho rằng 100 năm là một thế kỷ, như vậy không đúng), 1.200 năm là một giáp, 12.000 năm là một ngươn....
(Lời Thuyết Đạo Q1- Bài cuối).
&&&
Ngày nay người đạo phát hiện Ngài đã bố trí thể pháp một thế kỷ là 120 năm nơi Nghinh Phong Đài.
Chúng tôi tích cóp lại và trình bày trong bài nầy qua 02 phần:
. Cách tính thế kỷ theo dương lịch và hoa giáp theo âm lịch.
. Cách tính thế kỷ là 120 năm theo cách của Đức Hộ Pháp.
PHẦN MỘT:
THẾ KỶ & HOA GIÁP.
THẾ KỶ & HOA GIÁP.
Trên thực tế thì ngày đêm có trước rồi mãi sau con người mới nghĩ ra cách ghi nhận ngày đêm và tiến dần đến năm tháng. Thời gian có trước rồi con người mới tìm cách ghi nhận thời gian (nay gọi lịch).
Về sau nữa mới chế ra đồng hồ....
Lịch sử nhân loại ghi nhận có nhiều bộ lịch khác nhau (nhiều cách ghi nhận và tính thời gian khác nhau).
Trong bài nầy chúng tôi chỉ trình bày sơ lược về cách tính thế kỷ (theo dương lịch) và hoa giáp (theo âm lịch) để thấy rằng cách tính thế kỷ 120 năm kết hợp được cả 02 nền văn minh Đông và Tây.
Phương Tây: thế kỷ & đường thẳng; phương Đông: can, chi & chu kỳ.
1- THẾ KỶ.
Phương Tây quan niệm thời gian tiến triễn theo đường thẳng nên cứ đếm tới, tính theo cách tăng dần từ số nhỏ đến lớn (thời công nguyên).
Công nguyên là gì?
Các nước Châu Âu (và sau nầy là Châu Mỹ...) lấy năm sinh của Đức Chúa Jesus Christ làm khởi đầu của kỷ nguyên, gọi là Tây Lịch kỷ nguyên hay Công Nguyên.
Theo qui ước thì trước Công nguyên có ghi dấu trừ (-) và năm công nguyên có ghi dấu (+) hay không ghi dấu.
Thí dụ: viết năm -30 là trước công nguyên 30 năm. Do viết có dấu trừ ở trước nên trị số tuyệt đối (không kể dấu trừ) càng lớn thì năm đó càng TRƯỚC năm Thiên Chúa giáng sinh.
Viết năm +30 hay năm 30 là sau khi Thiên Chúa giáng sinh 30 năm (công nguyên). Do viết có dấu cộng (hay không dấu) nên trị số tuyệt đối càng lớn thì càng SAU năm Thiên Chúa giáng sinh.
Số 0 là con số trong toán học; còn thời gian thì không có năm mang số 0. Năm Thiên Chúa giáng sinh làm gốc thì đó là năm thứ 01 (CN).
Cách viết: -05, -04, -03, -02, -01 /// +01, +02, +03, +04, +05....
Tây lịch lấy mặt trời làm chuẩn.
Một năm có 365 ngày và ¼ ngày.
Nên cứ 04 năm có một năm nhuần. Trong năm nhuần theo Tây Lịch thì tháng 02 có ngày 29 (bình thường tháng 02 chỉ đến ngày 28). Muốn biết năm nào nhuần thì lấy năm đó chia cho 4. Nếu số dư là 0 thì đó là năm nhuận.
Có tháng 30 ngày, có tháng 31 ngày (ngoại trừ tháng 02).
12 tháng thành một năm.
Một thế kỷ là 100 năm.
Một thiên niên kỷ là 1.000 năm.
Nên thế kỷ thứ I được tính từ năm 01 đến năm thứ 100.
Thế kỷ thứ II được tính từ năm 101 đến năm thứ 200.
Nhưng đến năm 2000 thì ở Việt Nam (và nhiều nơi trên thế giới) phần nhiều lại cho rằng đã sang thế kỷ 21. Và được xã hội chấp nhận.
Như vậy:
Thiên niên kỷ thứ nhất từ năm 01 đến năm 1.000.
Nhưng thiên niên kỷ thứ 2 lại từ năm 1.001 đến năm 1.999 (ít hơn thiên niên kỷ thứ nhất 01 năm).
Lưu ý: nếu chính xác thì phải viết là TRƯỚC CÔNG NGUYÊN và CÔNG NGUYÊN. Không viết sau công nguyên vì văn minh Thiên Chúa Giáo đang lưu hành. Và chưa có một bộ lịch nào ghi theo một quan điểm mới lưu hành.
Như vậy khi nền Văn Minh Cao Đài Giáo hình thành và định lịch ĐĐTKPĐ theo thể pháp thế kỷ 120 năm bố trí ở Nghinh Phong Đài hẳn nhiên sẽ có năm SAU CÔNG NGUYÊN.
Do đâu mà chúng Tôi hiểu như vậy?
1.1- Tại Đền Thánh đêm 29/9- Nhâm Thìn (1952) Đức Hộ Pháp:
Đêm nay Bần Đạo giảng về Tôn giáo đối với một nền văn minh của thời đại....
Chúng ta ngó thấy mỗi phen Đức Chí Tôn đến, hay là sai vị Giáo chủ nào đến đặng tạo Tân dân bao giờ cũng vậy. Trước tiên cái nền văn minh đến, thì nền Đạo Giáo đã thành lập trước, bởi Đạo Giáo là căn bản của nền văn minh đó vậy.
Chúng ta ngó thấy trước mắt kiểu vở của các nền văn minh đã có, là do nơi các Tôn giáo đã tạo. Đương nhiên bây giờ có hai nền văn minh trọng yếu hơn hết của tinh thần nhơn loại là: Văn minh của Phật Giáo và văn minh của Thiên Chúa Giáo. Hai nền văn minh tinh thần của hai Đạo giáo đó rất cao thượng. Bần Đạo chỉ nói rằng: Tốt đẹp không thể gì tả hình trạng ra cho đặng. Tại sao nó tốt đẹp ấy? Là nó có năng lực bảo sanh hình chất của nhơn loại, nó có thể bảo vệ cho đời sống tinh thần thiêng liêng của họ mà chớ....
&&&
1.2- Đêm 12 /10- Nhâm Thìn (1952) tại Đền Thánh. Đức Hộ Pháp:
...giờ phút này, Bần Đạo ngó lại phải để câu hỏi: Nền Đạo Cao Đài ngày kia sẽ tạo nền văn minh như thế nào? Thật vậy nền văn minh sẽ ra sao?
Bần Đạo nói hai vị Giáo Chủ kia đã mang thi phàm xác tục, mà họ còn để lại hai gương đẹp đẽ vô biên ấy, họ tạo Tân dân, họ đã đến đây phương kế hiệp thành chữ "Khí" của Đức Chí Tôn đến giữa Thánh đức của Ngài, rồi giờ phút nầy Đức Chí Tôn đến để nơi mặt thế gian này nền Tôn Giáo Cao Đài, thì nền văn minh ấy thế nào con cái của Đức Chí Tôn đoán biết.
&&&
1.3- Phần trình bày về Huệ Kiếm Gươm Thần & Long Hoa Thị cũng là một trong những điều kiện để hiểu rằng Văn Minh Cao Đài Giáo sẽ đảm đương việc phụng sự vạn linh trong buổi toàn cầu hóa. Câu:
...Nắng hạ héo khô vườn bá tánh,
Dắt nhau tìm núp bóng Cao Đài.
Thiễn nghĩ chính là lời báo trước về nền Văn Minh Cao Đài Giáo.Dắt nhau tìm núp bóng Cao Đài.
Đức Chúa Jesus có dạy: ...không thổi một ngọn đèn hầu tàn, không bẻ một cành lau dù đã chớp....thì môn đệ Đấng Cao Đài phải lấy đó làm bài học để hành xữ cho xứng đáng.
Phải hiểu rằng chính do tiến trình phụng sự vạn linh theo cách êm tịnh và hòa bình rồi nhân loại tự quyết định một cách tự nhiên chớ không phải hô hào ầm ỉ, lý thuyết suông để gây ra xung đột là trái với chủ trương và ý chỉ cao thượng của Thầy khi lập ĐĐTKPĐ.
2- HOA GIÁP.
Phương Đông quan niệm thời gian theo chu kỳ nên cứ hết một chu kỳ thì quay trở lại khởi điểm. Một chu kỳ của phương Đông là 60 năm hay còn gọi là Lục Thập Hoa Giáp.
Thí dụ năm Bính Dần (1926) thì 60 năm sau là 1986 lại có năm Bính Dần.
Âm lịch lấy mặt trăng làm chuẩn.
Trong âm lịch một tháng đủ là 30 ngày, tháng thiếu là 29 ngày. Cứ đến ngày 15 hằng tháng là trăng tròn.
Một năm thường có 12 tháng.
Mổi năm nhuận có 13 tháng. Tháng nhuận của Âm Lịch thay đổi không cố định như Tây Lịch.
Theo qui ước thì người phương Đông dùng Thiên Can và Địa Chi để chỉ đơn vị thời gian là một năm theo âm lịch.
Có 10 Thiên Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí. Nếu đánh số từ 1 đến 10 ta thấy có can chẳn và can lẽ.
Có 12 Địa Chi: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Nếu đánh số từ 1a đến 12a ta thấy có chi chẳn và chi lẽ.
Cách ghép 10 thiên can và 12 địa chi:
. Khi ghép Thiên Can và Địa Chi lại với nhau thì Thiên Can luôn đứng trước.
. Một Thiên Can chỉ đi được với 06 chi. Can chẳn đi với Chi chẳn mà không ghép được với chi lẽ.
. Cụ thể như sau:
Can giáp: Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn, Giáp Ngọ, Giáp Thân, Giáp Tuất.
Can Ất: Ất Sửu, Ất Mẹo, Ất Tỵ, Ất Mùi, Ất Dậu, Ất Hợi.
Can Bính: Bính Dần, Bính Thìn, Bính Ngọ, Bính Thân, Bính Tuất, Bính Tý.
Can Đinh: Đinh Mẹo, Đinh Tỵ, Đinh Mùi, Đinh Dậu, Đinh Hợi, Đinh Sửu.
Can Mậu: Mậu Thìn, Mậu Ngọ, Mậu Thân, Mậu Tuất, Mậu Tý, Mậu Dần.
Can Kỷ: Kỷ Tỵ, Kỷ Mùi, Kỷ Dậu, Kỷ Hợi, Kỷ Sửu, Kỷ Mẹo.
Can Canh: Canh Ngọ, Canh Thân, Canh Tuất, Canh Tý, Canh Dần, Canh Thìn.
Can Tân: Tân Mùi, Tân Dậu, Tân Hợi, Tân Sửu, Tân Mẹo, Tân Tỵ.
Can Nhâm: Nhâm Thân, Nhâm Tuất, Nhâm Tý, Nhâm Dần, Nhâm Thìn, Nhâm Ngọ.
Can Quí: Quí Dậu, Quí Hợi, Quí Sửu, Quí Mẹo, Quí Tỵ, Quí Mùi.
&&&
Nếu ghi bằng số can và chi đã nêu thì ta có bảng sau:Can Giáp: 1-1a, 1-3a, 1-5a, 1-7a, 1-9a, 1-11a.
Can Ất: 2-2a, 2-4a , 2-6a, 2-8a, 2-10a, 2-12a.
Can Bính: 3-3a, 3-5a, 3-7a, 3-9a, 3-11a, 3-1a.
Can Đinh: 4-4a, 4-6a, 4-8a, 4-10a, 4-12a, 4-2a.
Can Mậu: 5-5a, 5-7a, 5-9a, 5-11a, 5-1a, 5-3a.
Can Kỷ: 6-6a, 6-8a, 6-10a, 6-12a, 6-2a, 6-4a.
Can Canh: 7-7a, 7-9a, 7-11a, 7-1a, 7-3a, 7-5a.
Can Tân: 8-8a, 8-10a, 8-12a, 8-2a, 8-4a, 8-6a.
Can Nhâm: 9-9a, 9-11a, 9-1a, 9-3a, 9-5a, 9-7a.
Can Quí: 10-10a, 10-12a, 10-2a, 10-4a, 10-6a, 10-8a.
&&&
Trên đây là bảng liệt kê can kết hợp với chi.
Ở bảng ghi theo số ta thấy số lẽ đi với số lẽ và số chẳn đi với số chẳn.
Cách gọi tên hằng năm thì thay đổi theo thứ tự của can và chi kế tiếp. Cả can và chi đều thay đổi khi bước vào năm mới.
Thí dụ: Giáp Tý rồi đến Ất Sửu và Bính Dần.....
Cứ như thế 60 năm thì quay trở lại là Giáp Tý nên cách tính Lục Thập Hoa Giáp nầy còn gọi là biểu Giáp Tý.
Qui ước là vậy và đã có rất nhiều cách giải thích, nhưng không một ai nêu được lý do vì sao mà một Can Chỉ kết hợp được với 06 chi và không được kết hợp với 06 chi còn lại.
Người phương Đông thường có tục tổ chức Lễ Đáo Tuế để mừng người đã sống đến năm có can và chi mình chào đời.
Cũng theo phong tục thì người đã sống đến năm có can và chi mình chào đời (Đáo Tuế) lúc mất ghi trên mộ bia là hưởng thọ. Dưới đó thì ghi là hưởng dương.
Chúng tôi trình bày qui ước cách gọi năm của phương Đông để phục vụ đề tài nên không đi sâu vào các vấn đề khác.
&&&
(CÒN TIẾP: PHẦN HAI- “Thế kỷ 120 năm”.)
&&&