Kính mừng Lễ giáng sanh Đức Hộ pháp Phạm Công Tắc - Năm Canh Dần 2010

thaithuongngoc

New member
KÍNH MỪNG LỄ GIÁNG SANH ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC
31gp5ke1gk4bu6ubi30j.jpg

Chân dung Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc
jjiqlu58ecxfqlu3v0l3.jpg

Đức Hộ Pháp ban phép lành.
xy1cypnslc5k1aj3r7fx.jpeg

Giáng linh Hộ Pháp Di Đà
Chuyển Cây Ma Xử đuổi tà trục tinh.
mg160dkkgyw3dc5j79jc.jpg


Trót đã ba năm, ở xứ người,
Ðem thân đổi lấy phúc vui tươi.
Ngờ đâu vạn sự do Thiên định,
Tuổi đã bảy mươi cũng đủ rồi.
Nhớ tiếc sức phàm, thừa chống chỏi,
Buồn nhìn cội Ðạo, luống chơi vơi.
Rồi đây ai đến cầm Chơn Pháp,
Tô điểm non sông Ðạo lẫn Ðời.

Bài thài Đức Hộ Pháp
Giáng-sinh vào tiết Đoan Ngọ
1890
<o:p></o:p>
<v:shape style="width: 450pt; height: 0.75pt; visibility: visible;" id="Picture_x0020_3" alt="http://www-personal.usyd.edu.au/%7Ecdao/booksv/hline.gif" type="#_x0000_t75" o:spid="_x0000_i1025"><v:imagedata o:title="hline" src="file:///C:%5CUsers%5Cuser%5CAppData%5CLocal%5CTemp%5Cmsohtmlclip1%5C01%5Cclip_image002.gif"></v:imagedata></v:shape><o:p></o:p>
<o:p></o:p>
1. Một thiếu niên diệu thường <o:p></o:p>
Vào tiết Đoan Ngọ (5-5) năm Canh Dần (21-6-1890), bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, thuộc làng Bình Lập, tại tỉnh lỵ Tân An (nay là Long An), một chơn linh giáng lâm trong gia đình ông Phạm Công Thiện, một công chức. Đó là Phạm Công Tắc (Theo giấy tờ hộ tịch thì Ngài sanh tại Bình Lập; và cũng được xác nhận trong quyển "Tiểu Sư Đức Hộ-Pháp Phạm Công tắc", xuất bản năm 1954 lúc Ngài còn sanh tiền ).Ngài sanh nhằm năm Thành Thái thứ hai, lúc bấy giờ, Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, do Pháp trực tiếp cai trị. Vì thế Nam Kỳ coi như một phần lãnh thổ của Pháp. Phủ Thống Đốc Nam Kỳ đặt tại Sài gòn. <o:p></o:p>
Ông Phạm Công Thiện kết hôn với bà La thị Đường, sanh được tám người con mà Ngài Phạm Công Tắc là người con thứ bảy. Song thân Ngài trước ở làng An Hòa, quận Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Vì là công chức, ông Phạm Công Thiện được đổi đến Long An. <o:p></o:p>
Thuở thiếu thời, Ngài Phạm Công Tắc là một thiếu niên khỏe mạnh, tư chất thông minh đỉnh ngộ. Có điều lạ, vì sanh nhằm ngày Khuất Nguyên trầm mình xuống sông Mịch La, cũng là ngày Lưu Thần, Nguyễn Triệu nhập Thiên thai, nên thỉnh thoảng Ngài ngủ thiếp đi như người chết, linh hồn lạc khuất đâu đâu, khiến cho huyên đường âu lo; nhất là bà cụ cố tỏ vẻ buồn rầu sợ Ngài mệnh bạc. <o:p></o:p>
Cảnh trạng Ngài chết đi sống lại như thế, cả làng xã đều biết (*). Người ta cố gắng lo thuốc thang cho Ngài, nhưng vốn tiền định, lâu lâu Ngài ngủ lịm đi đôi ba giờ, có khi kéo dài nửa ngày. <o:p></o:p>
~~~~~~~~~~
(Nhật báo Điện Tín số ra ngày 9/9/1911 có đăng tin "1 thiếu niên 19 tuổi sau khi đỗ tú tài thì đôi mắt tự nhiên lòa hẳn đi, kéo dài trong 1 tháng thì thiếu niên lâm trọng bịnh. Trong lúc mê sảng thiếu niên cho cho già biết là anh được Thiên tướng xuống đưa về Thiên đình chữa bịnh. Anh sẽ chết rồi 15 ngày sau mới sống dậy, miễn đừng đem xác chôn và ngày ngày vẫn cho anh uống 3 lần nước lạnh vào 6 giờ sáng, 12 giờ trưa và 8 giờ tối". Dẫn chuyện xảy ra ở Tân Châu (Châu Đốc) này để chứng tỏ chuyện thiếp đi của Ngài Phạm Công Tắc là chuyện thật )<o:p></o:p>


Năm 1896, đến tuổi cấp sách đến trường tiểu học, có lúc học chữ Nho, rồi sau theo học trường Chasseloup-Laubat (nay là trường Jean-Jacques Rousseau, đường Hồng Thập Tự, Sài gòn). Bằng hữu ai cũng thích Ngài vì tính tình khoan hòa, ưa họat động, nhất là nhiều sáng kiến, bày biện các cuộc chơi, hay đánh đổ một vài nhân vật trong lịch sử nước Pháp. Việc này khiến cho các bạn ái ngại xa lánh Ngài. Phong trào Đông Du (1904 - 1907) do Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm Minh chủ và hai nhà cách mạng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh khởi xướng để nâng cao dân trí, bằng cách gởi các thanh niên du học ngoại quốc nhất là Nhật Bản. <o:p></o:p>

Tại Sài gòn, phong trào Đông Du do hai ông Gilbert Chiếu (tức Trần Chánh Chiếu) và Dương Khắc Ninh lãnh đạo. Các ông thành lập các Kinh Thương Hội như: "Minh Tân công nghệ" và khách sạn "Nam Trung" làm nơi lưu trú hội họp cho đảng viên. Ngài Phạm Công Tắc dù đang theo học năm thứ hai trường Chasseloup-Laubat, cũng lén bỏ học đến họp với anh em. <o:p></o:p>
Hai ông Gilbert Chiếu và Dương Khắc Ninh tập họp các đảng viên chia nhiều nhóm để xuất dương. Ba nhóm đã tới Nhật. Ngài được ghi tên vào nhóm thứ tư. Lòng Ngài như mở hội, bao nhiêu mộng hải hồ viễn phương kéo lũ lượt qua võng mô Ngài. Bút nghiên tạm xếp, hành trang sẵn sàng chờ ngày lên đường. Đùng một tiếng, phong trào bị khám phá. Mật thám Pháp đến tra xét cơ sở Minh Tân công nghệ. Ông Dương Khắc Ninh đã lẹ tay hành động, tiêu hủy tất cả hồ sơ và tài liệu nên không ai bị lôi thôi gì cả. Tuy nhiên mật thám vẫn chú ý, luôn luôn theo dõi, dò xét các nhà lãnh đạo và chính Ngài cũng bị chúng để ý và nhà trường lưu tâm. Buộc lòng Ngài phải nghĩ học về làng An Hòa (Tây ninh) tạm tránh sự dòm ngó của mật thám Pháp. Khi tình hình êm dịu, Ngài lại lăn mình vào trường tranh đấu. Lần này Ngài hoạt động cẩn thận hơn, rồi tham gia viết báo như: Công luận, La Cloche Fêlée (Chuông rè) của Nguyễn An Ninh, La Voix Libre (Tiếng nói tự do) vv... Tờ Lục Tỉnh Tân Văn của ông Pierre Jeantet, ông Gilbert Chiếu làm chủ bút. Ngài cộng tác thường xuyên với tờ này vì là đồng chí. Hơn nữa, ông Chiếu ngấm ngầm làm cơ quan tuyên truyền chống Pháp và khích động lòng yêu nước của nhân dân rất đắc lực. Các bài "Thượng bất chánh, hạ tắc loạn" (đăng ngày 12/12/1907), bài "Dân tộc đoàn kết và thời đàm" (đăng ngày 23/01/1908) là những lời thẳng thắn cảnh cáo nhà cầm quyền Pháp. Khi ông Chiếu bị bắt, tờ báo đình bản, Ngài lại về quê. <o:p></o:p>
Vì ảnh hưởng cách mạng và các tiên Vương, về sau Ngài lập Báo Quốc Từ thờ Tổ Hùng Vương, bôn ba sang Nhật rước tro Cường Để, về Sài gòn rước linh vị Thành Thái và Duy Tân đem thờ nơi Báo Quốc Từ (gần chợ Long Hoa). Tất cả các sự việc đó để cho tấm lòng nuôi dưỡng ý chí các liệt sĩ bất khuất và di dưỡng vang bóng một thời của tuổi trẻ hào hùng. <o:p></o:p>
Âu cũng là thiên thơ dĩ định, mộng Đông Du không thành, bạn bè cùng chí hướng mỗi người mỗi ngã, Ngài chẳng lẽ ngồi đây nhìn quê hương mỗi ngày một thêm tan nát, hay chỉ còn biết làm bạn cùng cây cỏ gió trăng. Đêm rằm tháng Giêng năm Đinh Mùi, Ngài nằm trên sập kê trước nhà nhìn vầng trăng hư ảo mà khẽ ngâm bài "Nhân nguyệt vấn đáp", rồi tâm thần dần dần tê mê theo cơn gió nhẹ ru. Khi mở mắt ra Ngài thấy chan hòa một thứ ánh sáng huyền diệu mà Ngài đang lửng thửng đi trên đường bằng phẳng sạch sẽ và trắng như tuyết. <o:p></o:p>
Bỗng thấp thoáng đằng xa đi lại một vị sư già, mặc áo cà sa vàng, nét mặt từ bi và cất tiếng hỏi: "Em có nhớ qua không?". Ngài nhìn vị sư, chợt nhớ ra vội đáp: "Dạ nhớ". <o:p></o:p>
Vì năm lên mười tuổi theo học chữ Nho, thường hầu Thầy đi cân thuốc ở tiệm Đức Vọng, chợ Tây Ninh, Ngài đã gặp vị sư này bàn với thầy Ngài về tương lai Ngài như vầy: "Cậu bé này vào bậc siêu phàm, sự nghiệp vô cùng cao cả".<o:p></o:p>
Vị sư già đưa Ngài đến một tòa lâu đài, một màu trắng tinh "Một tòa thiên các ngọc làu làu" và bảo Ngài: "Em chờ ngoài này qua vào trong một chút nhé". Ngài chờ lâu quá không thấy vị sư trở lại, bèn vừa kêu vừa gõ cửa, vẫn không thấy ai trả lời. Ngài mới đi vòng quanh thấy nhà có tám góc và tám cửa đều giống nhau và đóng kín. Nhìn kỹ, Ngài mới nhận ra mỗi cửa đều có một con đường trắng chạy về phía chân trời xa. Trong lúc băn khoăn chưa biết chọn con đường nào, bỗng thấy phía có bóng đèn loé sáng, Ngài liền phăng tới, gặp một tòa nhà mà cửa vẫn đóng. Ngài gõ liên tiếp mấy tiếng, không thấy ai trả lời. Ngài bấn loạn, muốn thối lui thì một tiểu đồng xuất hiện và chỉ tay vào Ngài mà hỏi: <o:p></o:p>
"Anh có phải là anh Tắc không?".
"Sao em biết qua?".
Cậu bé mĩm cười: "Sao tôi lại không biết".
Nói xong tiểu đồng tiếp: "Thầy gọi anh trong nhà".
Ngài ngạc nhiên hỏi: "Thầy là ai hở em ?".
"Rồi anh sẽ biết". <o:p></o:p>

Nói xong tiểu đồng bước vào nhà. Ngài bước theo gặp "con chó lông vàng" nằm chặn ngang đường, Ngài ngần ngại nên tiểu đồng giục: "Có gì mà sợ, nó không phải là chó nên chẳng cắn đâu. Anh cứ theo tôi đừng sợ gì cả." Ngài vừa bước qua, cửa từ từ đóng lại. Ngài và chú tiểu đứng trong hành lang rộng mênh mông. Theo chiều dài hành lang có năm phòng lớn, mỗi phòng có một cửa đều đóng. Chú tiểu đưa Ngài đến cuối phòng và dặn: "Anh chờ đây. Lúc nào Thầy kêu tôi sẽ cho anh hay". Chờ lâu quá sốt ruột, phần vì sợ con Kim Mao Hẩu (tức là con chó lông vàng), nên Ngài bạo dạn gõ cửa. Chú tiểu nghe tiếng gõ cửa gắt gỏng: "Anh làm gì rối thế? Anh nhát quá, thôi ở đấy mà chờ Thầy". Ngài ngắm xung quanh phòng, thấy dài đến 20 thước, rộng 10 thước, bốn mặt tường và nền nhà là một khối cẩm thạch phẳng liền cực đẹp. Từ ngoài một ông già cao lớn, mặc áo xanh, râu tóc bạc trắng bước vào, Ngài chấp tay xá. Nhìn kỹ, Ngài nhớ ra, ông già này là người đi với nhà sư mà Ngài đã gặp trong tiệm Đức Vọng độ nào. Ông đi thẳng lại chiếc ghế bành ung dung ngồi xuống và bảo Ngài: "Con ngồi xuống đi". Trước nhất, ông già hỏi thăm về gia đình, nhưng trừ người chị thứ tư đã mất thì không hỏi, làm Ngài ngạc nhiên vô cùng. <o:p></o:p>
Sau lúc phê phán từng người trong gia đình, ông già gọi tiểu đồng: "Con đem bánh cho anh con ăn".
Tiểu đồng mang vào đặt trước mặt Ngài một đĩa bạc lớn, trên đựng đầy bánh bốc hơi thơm phức. Các bánh trong ngần như bột lọc, hình tròn, nửa đỏ nửa trắng, sắp theo hình nón. Ngài được ông già mời ăn và uống nước bằng tô lớn vàng ròng. Đợi Ngài ăn xong, ông già trầm ngâm nói:
"Hôm nay con ăn hai cái bánh rưỡi và uống một tô nước. Những thứ đó sẽ ám hợp vào đời hành đạo của con sau này".<o:p></o:p>

Ngài tạ từ ông già, nhưng nhớ đến con Kim Mao Hẩu, Ngài vái xin con vật đó. Ông già tỏ vẻ ưng lòng và đáp:
"Con cứ về đi, sau này nó sẽ xuống với con".<o:p></o:p>

Khi trở ra, Ngài bước lên lưng con Kim Mao Hẩu và đạp lên mông thì cánh cửa tự mở. Lúc đến tòa lâu đài tám góc, tiểu đồng ra từ tạ:
"Bây giờ em chưa thể cùng đi với anh được. Sau này Thầy sẽ cho em xuống với anh. Thôi anh về đi". <o:p></o:p>

Ngài sực nhớ đi chơi lâu quá, vội chạy nhanh về, vô ý vấp phải mô đất, té lộn đi một vòng. Ngài giựt mình tỉnh dậy, thoang thoáng bên tai tiếng kêu khóc vang vầy, mở mắt ra thấy mọi người tấp nập chung quanh mình. Kẻ thì kéo tóc, người thì giật tay, gọi tên ầm ĩ. Ngài chờn vờn ngồi dậy nói như trong mơ: "Con chó của tôi đâu rồi?". Người người ngơ ngác, nhưng Ngài lại nhớ đến con Kim Mao Hẩu trong giấc mộng dài diện kiến Thiên Cung. ập Thật ra, đây không phải là một giấc mộng mà là một cuộc xuất hồn của một chơn linh hiển đạo. Cuộc vân du này, năm 1927, Đức Ngài viết thành quyển "Thiên Thai Kiến Diện" đúng hơn là "Tam thập lục thiên hồi ký" mà bài số 75 gần như gom ý cuộc hội kiến với Đức phân thân Đức Cao Đài mặc áo xanh nói trên: <o:p></o:p>
Bài 75<o:p></o:p>
Xa trông cảnh vật đã xây tròn,
Bát hướng Đài ngưng thấy nước non.
Động cũ Thần Tiên còn để dấu,
Chùa xưa Phật Tích nát hư mòn.
Chấp Kinh Khổng sĩ nho phong dõi,
Nắm nghiệp Đào quân nhấp thuốc khôn.
Nẻo Thánh tuy quên tay đẩy cỏ,
Nền Văn miếu thấy khói hương còn.<o:p></o:p>

Trong cuộc vân du kể trên, trước hết Ngài gặp vị sư già mặc áo vàng (biểu tượng Đạo Phật), ông già mặc áo xanh (biểu tượng Đạo Lão) đó là nhân vật chính Đức Hồng Quân Lão Tổ phân thân của Đức Cao Đài. Đĩa bánh bạc màu trắng (màu Đạo Cao Đài) đựng những chiếc bánh hình tròn (biểu tượng Trời hay Thái Cực) có hai màu đỏ và trắng (biểu tượng Âm Dương) tức Thái cực sanh lưỡng nghi. Âm Dương hay Khôn Càn là đầu mối sinh biến sinh ra vạn vật. "Đạo vốn chỉ một Âm một Dương mà thôi..., có cái gì thích hợp mà chẳng một Âm một Dương(Trần Thúc Lượng, Tống nguyên học án. quyển 3, trang 643 ).<o:p></o:p>
Ngài được uống một tô nước cam lồ. Theo Dịch lý mọi việc khởi đầu ở cung Tý (Thủy) tức Thiên khai ư Tý, 12 giờ đêm thuộc Thiếu Dương số một, ứng vào quẻ Phục (biểu tượng phục hưng nền Đạo mới). <o:p></o:p>
Thật sự, Ngài chỉ ăn có hai cái bánh, cái bánh thứ ba chỉ ăn nhưn mà bỏ vỏ hàm ý chỉ gom lấy cái tinh hoa của các Đạo mà bỏ những điều cặn bã, phản tiến hóa. Ông già áo xanh nói: "Con ăn hai cái bánh rưởi và uống một tô nước. <o:p></o:p>
Những thứ đó sẽ ám hợp vào đời hành đạo của con sau này". Nếu Ngài ăn đủ ba cái thì xong không còn gì để nói. Như vậy không phù hợp với đạo Âm Dương: "Sinh rồi lại sinh". Thế nên Ngài chỉ ăn có hai cái rưởi mà lại " ám hợp vào đời hành đạo sau này", tức là chưa xong. Cuộc đời, trường đời, việc Đạo là hỏa thủy vị tế (quẻ Ly trên, quẻ Khảm dưới). Đó là quẻ thứ 64 trong Kinh Dịch, quẻ 63 ký tế mà quẻ 64 lại bắt đầu biến hóa. Trường đời, việc Đạo biến hóa vô thường, Ngự Mã Thiên Quân phải đối phó để giữ vững thuyền Đạo lướt qua những cơn sóng dữ và đá ngầm của biển cả. Đó là lời tiên tri của ơn Trên:
"Muốn giàu Thầy hứa đem cho của, Cái của cái công phải trả đồng"
(Xem hình "Ngôi mộ tổ nhà họ Phạm). <o:p></o:p>


Sau đây, chính Đức Ngài kể lại về thời thanh thiếu niên của mình: <o:p></o:p>
"Bần Đạo thứ tám, còn con em thứ chín ở trong cái ổ nghèo, ổ rách. Mấy anh chị họ lớn hơn, lập nên danh. Kẻ có chồng, người có vợ chỉ có Bần Đạo chưa biết gì hết chỉ biết thương nhau mà thôi, thương cha có công sanh dưỡng, thương mẹ bảo trọng gia đình lo tảo tần nuôi con, thương anh em trong gia đình, duy có biết thương mà lo học, sợ không học ông bà buồn rầu..." <o:p></o:p>
"Cha đã chết hồi Bần Đạo mới 12 tuổi, chỉ ở với mẹ. Thương mẹ sợ mẹ chết nữa không biết ở với ai? Ở tỉnh Tây Ninh, người ta thường chôn đám xác vào ban đêm. Khi ngủ nghe họ hò giựt mình dậy mò kiếm bà già. Bà già hỏi con làm gì vậy? Con nghe người ta đưa đám xác, con sợ mẹ chết quá. Cũng vì sự thương yêu, được 17 tuổi quyết định ra làm việc để trả hiếu cho mẹ".<o:p></o:p>
"Lúc ấy Bần Đạo đã thi đậu, nếu ra làm việc với hãng buôn ăn lương lớn mà không biết nuôi mẹ được không? Người anh rễ nói "Em làm việc hãng buôn tư không có danh dự gì hết". Bần Đạo nghe lời nên xin làm việc ở sở nhà nước, làm việc mỗi tháng lương 70-80 đồng, ăn xài cũng còn dư một đôi chục bạc để nuôi mẹ. Đến chừng lương còn 20 đồng một tháng, lúc đó thiếu nợ lại thêm một bà vợ nữa, công việc bối rối không biết bao nhiêu, tới chừng đó không còn lo cho mẹ nữa. Trong gia đình, khi đó chưa tạo được hạnh phúc thì bà mẹ đã chết" "Năm Bần Đạo được 22 tuổi, đau đớn biết bao nhiêu, chỉ biết lo một điều là lo lập thân danh đặng nuôi mẹ bảo trọng anh em. Đến chừng thành danh rồi khổ đáo để, cha mẹ đã khuất hết, dẫu thương bao nhiêu cũng không còn, lại tai ác nữa là vợ con gia đình sanh đẻ mãi, đâu có lo bên ngoài được nữa, khởi thống khổ tâm hồn. Tới chừng cao sang sung sướng ngó lụng lại không thấy cha mẹ. Hai Đấng ấy đã chết hết, thôi mình đeo theo anh em. Em chết nữa, lần lượt bao nhiêu người thân ái cũng đều chết hết. Bao nhiêu cái thương nồng nàn chỉ để nơi một người anh rễ, thương hơn anh ruột. Người em thứ chín là người bạn thân mến trong kiếp sanh của Bần Đạo mà đã qui liễu. Tới chừng ấy tâm hồn ngơ ngẩn, xác thịt bơ thờ, nghe tiếng chim, tiếng hát của mấy em cấy lúa, nghe tiếng hò của người chèo ghe cũng nhắc tới nỗi đau thương. <o:p></o:p>
Từ ngày ấy không buổi nào vui chỉ muốn tu, muốn tìm cảnh tu. Hễ biết tu, thì biết Đạo rồi biết dìu dắt anh chị em tới tình yêu thương nồng nàn"(Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Tây Ninh 1970, trang 76-77 ).
Trích "Chân dung Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc" của Hiền Tài Trần Văn Rạng<o:p></o:p>
 

caodo

New member
nhớ Tôn Sư

<link rel="File-List" href="file:///C:%5CDOCUME%7E1%5CAdmin%5CLOCALS%7E1%5CTemp%5Cmsohtml1%5C01%5Cclip_filelist.xml"><!--[if gte mso 9]><xml> <w:WordDocument> <w:View>Normal</w:View> <w:Zoom>0</w:Zoom> <w:punctuationKerning/> <w:ValidateAgainstSchemas/> <w:SaveIfXMLInvalid>false</w:SaveIfXMLInvalid> <w:IgnoreMixedContent>false</w:IgnoreMixedContent> <w:AlwaysShowPlaceholderText>false</w:AlwaysShowPlaceholderText> <w:Compatibility> <w:BreakWrappedTables/> <w:SnapToGridInCell/> <w:WrapTextWithPunct/> <w:UseAsianBreakRules/> <w:DontGrowAutofit/> </w:Compatibility> <w:BrowserLevel>MicrosoftInternetExplorer4</w:BrowserLevel> </w:WordDocument> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 9]><xml> <w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156"> </w:LatentStyles> </xml><![endif]--><style> <!-- /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-parent:""; margin:0in; margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:12.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-font-family:"Times New Roman";} @page Section1 {size:8.5in 11.0in; margin:1.0in 1.25in 1.0in 1.25in; mso-header-margin:.5in; mso-footer-margin:.5in; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} --> </style><!--[if gte mso 10]> <style> /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} </style> <![endif]-->
Hộ trì sanh chúng thoát binh đao<o:p></o:p>
Pháp chuyển cơ Đời quy cội Đạo<o:p></o:p>
Phạm môn nẻo Phật khơi tâm ái<o:p></o:p>

Công bình Thiên Đạo phẩm vị cao<o:p></o:p>
Tắc khổ khai thông mối Đạo nhàn<o:p></o:p>
Lưu truyền hậu thế hưởng bình an<o:p></o:p>
Thiên thơ định sẵn cơ nhân quả<o:p></o:p>
Sử nhân... hoài niệm vẫn nghẹn ngào.

Trung Từ kính tệ bút gửi đôi dòng thương nhớ Tôn Sư

( sau khi đọc được reply của QTV1,tiểu đệ xin chuyển bài thơ này qua chuyên mục khác trong thoi gian tới)

<o:p></o:p>
 
Sửa lần cuối:

thaithuongngoc

New member
Xin thành tâm đồng nguyện:
NAM MÔ TAM CHÂU BÁT BỘ HỘ PHÁP THIÊN TÔN
Ban phép lành: Toàn Đạo bình an, sanh chúng thoát ách tiêu tai, hằng trì chánh pháp, thế giới an lành, hòa bình hạnh phúc. Cửu Huyền Thất Tổ siêu thăng tịnh độ.
Bài vọng cổ: Hoài niệm Đức Hộ Pháp
Xin quý HT thân tâm an lạc.

http://hathaykhongbanghayhat.org/node/2069
 

truonghuuduyen

New member
KÍNH HUYNH TY ĐỆ MUỘI
ĐỆ XIN ĐĂNG TÀI LIỆU SAU ĐỂ TẤT CẢ CHÚNG TA CÙNG SUY GẨM
CẢM ƠN QUẢN TRỊ VIÊN1 ĐÃ CHO ĐỆ HIỂU THÊM CHÚT ÍT NỮA

Giáo: Dạy, truyền dạy, tôn giáo. Chủ: người sáng lập và làm chủ.
Giáo chủ là người sáng lập và làm chủ một tôn giáo.
Giáo chủ của Phật giáo là Đức Phật Thích Ca, những vị kế truyền cầm đầu Giáo Hội Phật giáo được gọi là Tổ Sư.
Giáo chủ của Thiên Chúa giáo là Đức Chúa Jésus (Gia Tô Giáo Chủ), những vị kế truyền cầm đầu Giáo Hội Thiên Chúa giáo ở La Mã được gọi là Giáo Hoàng.
Trong Đạo Cao Đài, hai phẩm Chức sắc lớn nhứt là Giáo Tông và Hộ Pháp. Đức Giáo Tông không phải là Giáo chủ của Đạo Cao Đài; cũng như Đức Hộ Pháp không phải là Giáo chủ của Đạo Cao Đài.
Vậy ai là Giáo chủ của Đạo Cao Đài?
Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế đã giáng cơ sáng lập Đạo Cao Đài, nên Đức Chí Tôn là Giáo chủ.
Đức Chí Tôn lập Đạo Cao Đài với hình thể 3 Đài có sự phân quyền rất rõ rệt, gồm:


  • [*] BQĐ cai trị phần hồn, do Đức Chí Tôn chưởng quản.
    [*] CTĐ cai trị phần xác, do Giáo Tông chưởng quản.
    [*] HTĐ làm trung gian liên lạc giữa BQĐ và CTĐ, và nắm giữ Pháp luật, do Hộ Pháp chưởng quản.
Để phòng tránh sự độc tài và lộng quyền, Đức Chí Tôn lấy quyền Giáo chủ phân ra làm hai: một nửa giao cho Giáo Tông và một nửa giao cho Hộ Pháp. Khi Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp lại, đồng ký tên ra lịnh một điều gì thì đó là quyền của Giáo chủ, tức là là quyền của Đức Chí Tôn, tất cả đều phải tuân mạng, bất tuân là phạm Thiên điều.
Sau khi Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung đăng Tiên, vì tình hình nền Đại Đạo đang gặp cơn khủng hoảng khó khăn, nên Đức Giáo Tông Lý Thái Bạch giao quyền Giáo Tông hữu hình tại thế cho Đức Phạm Hộ Pháp, để dễ bề đối phó các khó khăn và điều hành nền Đạo. Lúc đó Đức Phạm Hộ Pháp là Chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng, nên quyền của Đức Hộ Pháp bấy giờ là quyền Chí Tôn tại thế, tức là quyền Giáo chủ tại thế của Đạo Cao Đài. (Quyền Giáo chủ thiêng liêng vẫn do Đức Chí Tôn nắm giữ).
Do đó, Đức Phạm Hộ Pháp đôi khi xưng mình là Giáo chủ (tại thế) của Đạo Cao Đài.
BQÐ: Bát Quái Ðài.
HTÐ:
Hiệp Thiên Ðài.
CTÐ: Cửu Trùng Ðài.


ĐƯỜNG DẪN : http://caodaism.org/CaoDaiTuDien/
 

dong tam

New member
Giáo Chủ có 2 nghĩa:

1. Là người sáng lập một tôn giáo.(theo cách hiểu truyền thống) = GIÁO CHỦ
2. Là người đang đứng đầu một tôn giáo. Thí dụ: gọi Giáo Hoàng là Giáo Chủ

CAO ĐÀI hay DDTKPD có:
1. GIÁO CHỦ: là Cao Đài Giáo Chủ tức Ngọc Hoàng Thượng Đế dạy thờ Thiên Nhãn và bắt Ấn Tý
2. NGÔI HAI GIÁO CHỦ: Đức Ngô Minh Chiêu xưng danh sau khi thoát xác, con mắt trái mở (ấn chứng)
3. Ông Hộ Pháp Phạm Công Tắc xưng là Giáo Chủ của Cao Đài Tây Ninh khi Chưởng Quản Nhị hữu hình đài = Giáo Hoàng (chấp tay theo Nhị Kỳ của nhà Phật; xem hình thấy rất rỏ không có bắt ấn Tý)
Sau khi ông thoát xác, Đức Ngài nhiều lần về giáng cơ tại Cung Đạo Tòa Thánh Tây Ninh xưng danh trở lại là Hộ Pháp chứ không còn xưng là Giáo Chủ như khi còn sống vì Ngài đã biết ai mới thật sự là GIÁO CHỦ.
 

hoc.tro

New member
<link rel="File-List" href="file:///C:/Users/Admin/AppData/Local/Temp/msoclip1/01/clip_filelist.xml"><!--[if gte mso 9]><xml> <w:WordDocument> <w:View>Normal</w:View> <w:Zoom>0</w:Zoom> <w:DoNotOptimizeForBrowser/> </w:WordDocument> </xml><![endif]--><style> <!-- /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-parent:""; margin:0cm; margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:12.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-font-family:"Times New Roman";} p {margin-right:0cm; mso-margin-top-alt:auto; mso-margin-bottom-alt:auto; margin-left:0cm; mso-pagination:widow-orphan; font-size:12.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-font-family:"Times New Roman";} @page Section1 {size:612.0pt 792.0pt; margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt; mso-header-margin:36.0pt; mso-footer-margin:36.0pt; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} --> </style> Xin kính mừng ngày sinh nhật của Đức Phạm hộ pháp.
Kính mừng.


CAO ĐÀI TỰ ĐIỂN nói:
Sau khi Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung đăng Tiên, vì tình hình nền Đại Đạo đang gặp cơn khủng hoảng khó khăn, nên Đức Giáo Tông Lý Thái Bạch giao quyền Giáo Tông hữu hình tại thế cho Đức Phạm Hộ Pháp, để dễ bề đối phó các khó khăn và điều hành nền Đạo. Lúc đó Đức Phạm Hộ Pháp là Chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng, nên quyền của Đức Hộ Pháp bấy giờ là quyền Chí Tôn tại thế, tức là quyền Giáo chủ tại thế của Đạo Cao Đài. (Quyền Giáo chủ thiêng liêng vẫn do Đức Chí Tôn nắm giữ).
Do đó, Đức Phạm Hộ Pháp đôi khi xưng mình là Giáo chủ (tại thế) của Đạo Cao Đài.
Kính HTDM,
Theo diễn giải của Đạo huynh Nguyễn Văn Hồng thì Đạo Cao Đài chúng ta có 2 Giáo chủ:
- Giáo chủ vô vi là Thầy.
- Giáo chủ hữu hình là Đức Hộ pháp.
Học trò nghĩ hoài không ra:
1. Thầy đã không giữ lời khi nói "không giao chánh giáo cho tay phàm nữa". Đọc lại hoài không thấy thánh ngôn do Thầy giáng dạy giao cho ai cả. Sau đó, huynh Nguyễn Văn Hồng có nói thêm câu kết: Do đó, Đức Phạm Hộ Pháp đôi khi xưng mình là Giáo chủ (tại thế) của Đạo Cao Đài. (nguồn: Cao Đài Tự Điển).
Suy luận như vậy không biết đúng không:

Vậy thì Thầy vẫn giữ lời: Không giao chánh giáo cho tay phàm.

Việc "giao" là của Thầy còn việc "xưng" là của con người - hữu hình.


2. ....
Suy nghĩ đến giờ vẫn chưa thấy cơ bí nhiệm tiềm tàng của hữu hình đâu cả, mong được chỉ giáo .

Kính HTDM.
 

hienhuu

New member
Bạn truonghuuduyen nói chính xác lắm !
Bạn dongtam nói chưa đúng lý ! chỉ đúng điểm 1 mà huynh nói.
Điểm 2 thì khi tại thế Đức Ngô không phải là Giáo-Chủ của Đạo Cao-Đài thì khi về Thiêng-Liêng vẫn là Đức Chí-Tôn là Giáo-Chủ chớ không phải là Đức Ngô như QTV1 đã từng nhắc nhỡ.
Điểm 3 khi còn tại thế trong thời gian Đức Lý Giáo-Tông đã giao nửa quyền phần xác của Quyền Giáo-Tông lại cho Hộ-Pháp Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài tại thế thì lúc đó Đức Hộ-Pháp trong giai đoạn đó mới xưng là Giáo-Chủ để thay quyền Giáo-Chủ của Đức Chí-Tôn tại thế. Nhưng khi thoát xác về Thiêng-Liêng thì Giáo-Chủ vẫn là Đức Chí-Tôn.
Còn xem hình mà thấy chấp hai tay đó là Đạo có ba nguơn: Thượng, Trung , Hạ thì đến Trung Ngươn Đức Hộ-Pháp mới :
" Đến Trung-Nguơn bắt ấn Hiệp-Chưởng biến hóa, Gián-Ma Xử để nằm ngang, đuôi bên Thế, cán bên Đạo, ý nghĩa Đạo cầm cán trị Đời. Bắt ấn Hiệp-Chưởng, cầm cả cơ pháp của vạn-vật biến sanh đặng bảo tồn không cho tương tranh, tự diệt nhau." ( trích trong Q TĐ 2 của ĐHP trang 27 )
Nếu nói Giáo-Chủ của Tôn-Giáo Cao-Đài thì phải là Giáo-Chủ chớ không có phân ra Giáo-Chủ Cao-Đài Tây-Ninh ? Mà Đức Hộ-Pháp trong giai-Đoạn đó đã cầm Quyền Giáo-Chủ Cao-Đài tại mặt thế. Nhưng khi trở về Thiêng-Liêng thì Đức Chí-Tôn vẫn là Giáo-Chủ. Để chép lại bài thi khoán Thủ: Hộ-Pháp Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài mà Đức Lý đã ban cho:

HỘ giá Chí-Tôn trước đến giờ,
PHÁP luân thường chuyển máy Thiên-Cơ.
CHƯỞNG quyền Cực-Lạc phân Ngôi-Vị,
QUẢN xuất Càn-Khôn định cõi bờ.
NHỊ kiếp Tây-Âu cầm Máy Tạo,
HỮU duyên Đông-Á nắm Thiên-Thơ.
HÌNH hài Thánh-Thể chừ nên Tướng,
ĐÀI trọng Hồng-Ân gắng cậy nhờ./.
 

hienhuu

New member
Bạn họctrò lại còn hỏi !
Hộ-Pháp là Hộ-Pháp về phần Hữu-Hình với Vô-Vi vẫn là Hộ-Pháp.
Từ khi Đức Chí-Tôn chọn người có Chơn-Thần phù hạp như Ngài Phạm Công Tắc thì Đức Chí-Tôn mới hành pháp trục thần cho Hộ-Pháp hòa vào làm một mà giáng linh Hộ-Pháp Di-Đà thì là Hộ-Pháp tại thế, khi trở về thiêng liêng thì cũng vẫn là Hộ-Pháp có nghĩa là cả Hữu-Hình và Vô-Vi thì Hộ-Pháp vẫn nắm Quyền./.
 

Hoàn Không

New member

Kính
Là Tín-Đồ Đạo Cao-Đài thì phải biết Đức Ngô Minh Chiêu là chơn linh một vị Phật hạ phàm . Nhưng từ ngày Đức Ngài không nghe lời dạy của Đức Chí Tôn mà từ chối Ngôi vị Giáo-Tông thì phải suy-xét . ( Ở thế nầy con cải lời Cha, Mẹ, mình hiểu Đạo, mình có chơi với người đó không ? )
Nhưng, tại sao Đức Chí Tôn truyền Bí-Pháp cho Ngài đặng Ngài luyện Đạo mà Phục hồi Ngôi vị ? ( Bí-hiểm là chổ nầy ??? )
Ôi ! cơ khảo đạo cả tâm phàm lẫn Thánh chất .
Kính

 

dong tam

New member
1. Huynh hienhuu

Bên Thiên Chúa Giáo, Đức Jesus được xem là NGÔI HAI = là con của Đức Chúa Trời.(GIÁO CHỦ)

Đức Ngô Minh Chiêu sau khi thoát xác, đắc vị, khi được xưng danh NGÔI HAI GIÁO CHỦ có Tam Giáo Đạo tổ giáng cơ chúc mừng

Ngài Hộ Pháp có chơn linh là Hộ Pháp VI ĐÀ chứ không là HP Di Đà

2. Chúng ta luôn ghi nhận công đức RẤT LỚN LAO của đức Hộ Pháp với DDTKPD, tuy nhiên việc một số chư tín đồ Cao Đài Tây Ninh đã "Thần Thánh hóa" Ngài như vị Phật sống thì có nhiều tín hữu Cao Đài Tây ninh cũng như Cao Đài nơi khác và cả nhiều người ngoại đạo e rằng không phải như thế!

Nếu Ngài là Phật sống đã đắc đạo tại thế thì làm sao nhà cầm quyền Pháp có thể bắt đày đi ra đảo Madagascar xa tít mù vào đầu thập niên 40 hay giữa thập niên 50 phải "tránh nạn" sang Campuchia mới thoát được việc truy bắt của tay chân Ngô Đình Nhu và kết thúc cuộc đời trên giường bệnh vì căng thẳng thần kinh gây tai biến mạch máu não do đau buồn và quá lo lắng cho thiệt hại tiền của công sức nhơn sanh bởi Thái Tử Norodom Shihanouk ra lệnh tháo dỡ Ngôi Đền Phật Mẫu ở PhnomPenh đang được Ngài Hô Pháp cho xây dựng kiên cố sắp hoàn thành, nhưng không có giấy phép của chánh quyền thủ đô Nam Vang! (trích Hồi Ký Tiểu Sử của Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa viết theo yêu cầu của Ban Đạo Sử Tòa Thánh Tây Ninh vào thập niên 80)

Tóm lại Người có công luôn được hậu thế tôn sùng kính mến nhưng tôn sùng huyễn hoặc như mê tín thì e rằng đã không làm sáng danh của Đức Hộ Pháp mà còn làm cho DANH THẦY, DANH ĐẠO bị lu mờ!
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên:

hienhuu

New member
HuynhDT nói không đúng lý !
Những người khi còn tại thế đã có Thời Gian làm Giáo-Chủ thì đó mới chính là Ngôi Hai còn khi về Thiêng Liêng thì Giáo-Chủ vẫn là Ngôi Một Đức-Chí-Tôn.
Còn việc Đức Hộ-Pháp tại thế thọ khổ như bị người Pháp bắt đi đày thì Đức Ngài vẫn cho bắt cũng giống như Đức Chúa Giê-Su đắc Đạo làm phép lạ cứu sống người... Nhưng Chúa vẫn phải Thọ Khổ là chịu để cho Con người bắt hành hạ và đóng đinh đến thoát xác.
Còn việc Đức Ngài phải Lưu Vong bên Xứ Miên Trung Lập là để thực hiện Chánh-Sách Hòa-Bình Chung Sống chớ buổi đó nước Việt-Nam không có Trung Lập.
Đức Ngài kêu gọi mọi người Hòa-Bình Chung-Sống để Cộng Hưởng Tự-Do Quyền và Dân-Chủ như 2 câu liễn trước Cổng Chánh Môn. ( Đây là thực tế chớ không phải Thần Thánh Hóa. Chỉ những trường hợp tách ra vì sợ người Pháp dòm ngó bắt bớ. Chớ Đức Hộ-Pháp vẫn để cho người Pháp Bắt.)
Trong Kinh Đại-Tường trang 56 của Tân-Kinh có nói rõ:
" Giáng Linh Hộ-Pháp Di Đà.,
" Chuyển cây Ma Xử đuổi tà trục tinh.

Chớ không phải là Vi Đà mà Huynh DT đã nói.
Nếu nói rằng Vi Hộ Di Đà thì nghe phải hơn !./. Thân-Chào
 

lackhai

New member
Điều thứ nhứt, chư huynh tỷ đệ muội cho Lạc Khải hoan hỉ chào mừng chung chư huynh đệ tỷ muội đang online và chư vị đang vì đạo sự không online được.
Thưa chư huynh tỉ đệ muội, ĐỨC HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC đã được ví như là GIÁO CHỦ cảu Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh và điều đó đã được thể hiện bằng việc tại phủ thờ hộ pháp ( HỘ Pháp Đường) tại một số thánh thất ghi là " GIÁO CHỦ CAO ĐÀI TÒA THÁNH TẤY NINH" ngay trên bức ảnh thờ ngài trong bộ Đạo Phục Hộ Pháp, tiêu biêu cho dẫn chứng của đạo đệ là tại Thánh Thất Sài Gòn, 891 Trần Hưng Đạo, Quận 5 Thành Phố Hồ Chí Minh. Ở đây, vói cái nhìn hạn hẹp của người trần mắt thịt, đạo đệ không dám bàn luận gì nhiều chỉ xin có đôi điều phân trần, tâm sự cùng ví chưi huynh.
Điều thứ nhất, về mặt giáo chủ Cao Đài, người ấy là Thầy, là Đức Chí Tôn NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ ĐẠI THIÊN TÔN ĐẠI BỒ TÁT MAHA TÁT, người chính là CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MAHA TÁT GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG.
Thấy là người GIÁO CHỦ DUY NHẤT CỦA CHÚNG TA, nếu người tín đồ Cao Đài không xác định rõ đâu là Thầy - Giáo Chủ chúng ta và Giáo chủ NHân loại, và đâu là người Anh Cả dẫn đường cho chúng ta theo con đường của THẦy đã chỉ dạy thì người ấy chưa có đủ đức tin vững vàng và thần pháp để bước tới Ngọc Linh Tòa. Tu phải có CHÁNH TÍN, CHÁNH ĐỊNH, CHÁNH KIẾN, CHÁNH TƯ DUY VFAD CHÁNH TINH TẤN... có đủ bát chánh đạo là xác định rõ con đường chúng ta đang đi là con đường chân lí và sự sáng... Đừng thần thánh hóa những gì không phải là sự thật, nếu không chúng ta sẽ chuyển từ chánh tín chuyển sang mê tin, Đạo Cao nhứt xích, ma cao nhứt trượng... Than ôi.
Điều thứ 2, Ngài Phạm Công Tắc là Hộ Pháp Cao Đài Tây Ninh, ngài là người chủ thể cho cơ vô vi trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thời kì khai đạo, có nghĩa rằng ngài là chưỡng quản Hiệp Thiên Đài, đạo đệ công nhận chức danh và thánh danh ấy của ngài. Còn về việc là Giáo chủ, đạo đệ có cái nhìn nhận vĩnh cửu của mình là không tôn thờ bất cứ ai làm giáo chủ dù là ngôi hai hay ngôi ba gì gì đó ngoại trừ một Đáng giáo chủ tối cao tối thượng là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Maha Tát.
Điều Thứ 3, Ngài Phạm Công Tắc đích thị là người có công lao vô cùng to lớn với việc khai sáng cơ Đạo ban đầu, chúng ta là hậu sanh nên không dám bàn luận nhiều về tiền nhân đi trước, chỉ nên nhuìn nhận và học tập những giò chư vị đã l;àm được mà thôi, đường nói nhiều mà mang nghiệp khẩu
Đức Mẹ có dạy:
Tu phải giữu lặng êm làm gốc
Tu phải chưa cái nọc nhiều lời
Con ôi!, Tai họa khắp nơi,
Tại người uống lưỡi khua môi hại mình.
cho nên phải dặt dè trong bàn luận, đừng để xích míc tình Đồng Tông Đồng Đạo, dù là nhỏ nhất,"
Riêng cá nhân đạo đệ luôn tôn thờ Ngài Phạm Công Tắc như một vị tiền nhân công lao không thể luận được.
Ngày nay khoa học phát triển, kéo theo đó là sự nhìn nhận đánh giá có khoa học và tuân theo Đạo học đối với những người đi tu như chúng ta, đừng thần thánh hóa cái gì quá mức mà phải giữ cho nđược đạo Trung Dung, ( còn nữa)
[/B
 
Sửa lần cuối:

lackhai

New member
không thái quá mà cũng không bất cập, và đừng để cho phản tác dụng khi thần thánh quá mức sẽ gân ra sự mê tín và nghi ngờ đức tin trong đồng đạo chúng ta.
Điều cuối cùng, đạo đệ xin được phép có đôi điều suy nghĩ về chữ vi đà và chữ di đà.
DI ĐÀ là tên ngắng gọn của từ đức A DI ĐÀ PHẬT, đức phật đang là giáo chủ Tịnh Độ Trung trong Giáo Lý Phật giáo Bắc Tông ( không dùng chữ Đại Thừa và Tiểu Thừa), Phật A Di đà thường được gọi gọn thành Phật Di Đà hay là đức DI Đà, chữ Di Đà có nghĩa là " đầu tiên" trong tiếng Phạn và tiếng Pali, nó cũng có nét nghĩa thứ 2 là Đại Trí , cho nên người ta gọi Phật Di Đà là đức phật Đại TRÍ, đại diện cho thể TRí của phật ( 1 trong 3 thể của Tam Tôn Phật là BI TRí Dũng.
còn chữ VI ĐÀ, đã là HỘ PHÁP thì phải là VI ĐÀ, tại vì tên gọi đầy đủ của đức hộ pháp đó là HỘ PHÁP VI ĐÀ THIÊN TÔN, HAY LÀ HỘ PHÁP VI ĐÃ TÔN GIẢ, cũng có khi gọi là LA HÁN VI HỘ, hồng danh này xuất hiện rất lâu từ thời kì chư phật còn tại thế, và Đức Thế tôn khi ấy cũng có nói về HỘ PHÁP VI ĐÀ nhiều lần, người cầm giáng ma xử để trừ tà, trục tinh giữ vững nền chánh pháp, sau này, HỘ PHÁP VI ĐÀtieeop tực tuân chỉ sắc NGọc Hư Cung xuống trần tận độ KỲ Ba và hiện thân là ngài Phạm Công Tắc cho nên ta hay gọi là Đức HỘ Pháp là đang gọi hồng danh cho linh hồn của ngài, chứ thể xác thì phải gọi là ông Phạm Công Tắc, người mang tinh thần của Đức Hộp Pháp, cho nên VI HỘ, hay VI ĐÀ HỘ PHÁP chinh slaf một, và nó khác hoàn toàn với chữ DI ĐÀ, còn nguyên nhân tại sao lại có chữ DI Đà trong Tân Kinh, thì đạo đệ suy nghĩ như vầy: Đạo Cao Đài ra đời tại Miền Nam Việt Nam, đa phần tín đồ hiên nay (80% trong tổng số 2,6 triệu tín đồ ) đang là người Miền Na, việc đầu cơ giáng xuống là đúng nhưng đọc ra lại thành sai bởi tiếng địa phương Nam Bộ của mình hay đọc chứ V thành chữ D, chữ H và chữ V, chẳng hạn như " tại vì" thì người miền Nam mình gọi là " tại dì" chính lễ ấy đã gây ra sự sai sót này, hoặc như chữ " HÒA'" người Nam hay đọc là "VÀ'', đạo đệ thiểnm nghĩ như vậy, mong chư huynh tỷ đệ muội chỉ giáo thêm cho. khi đọc câu HỘ Pháp thì phải hiểu HỘ Pháp là gì, DI đà là sao, VI Đà là gì, không khéo lại nhầm lẫn rồi thành ra không hiểu hết chánh pháp của Đức CHí TÔn.
Đạo Đẹ ước mong sao cho những lỗi chính tả không còn gây nên sai lập làm lạc sai chánh pháp nữa, sự thật mà nói, trong số 6 tôn giáo lớn đang hoạt động tại Việt Nam ta thì kinh sách của Đạo Cao Đài là có nhiều lôic về chữ nghĩa chính tả nhất bởi nó còn mang nặng tính địa phương hay phương ngữa nhiều quá thành ra dễ gây nhầm lẫn cho người học lắm thay. cầu cho hậu bối sau này có được một bộ kinh đầy đủ chú giải và chuẩn chính tả hơn.
vài lời cẩn bạch.
lạc khải
 

hienhuu

New member
Huynh hoànkhông viết :
Là Tín-Đồ Đạo Cao-Đài thì phải biết Đức Ngô Minh Chiêu là chơn linh một vị Phật hạ phàm . Nhưng từ ngày Đức Ngài không nghe lời dạy của Đức Chí Tôn mà từ chối Ngôi vị Giáo-Tông thì phải suy-xét .
Nhưng, tại sao Đức Chí Tôn truyền Bí-Pháp cho Ngài đặng Ngài luyện Đạo mà Phục hồi Ngôi vị ? ( Bí-hiểm là chổ nầy ??? )
Ôi ! cơ khảo đạo cả tâm phàm lẫn Thánh chất .

Huynh hoànkhông à ! Đức Chí-Tôn đã truyền Pháp Luyện-Đạo cho Ngài với lý do là phải đi Phổ-Độ Chúng Sanh và Ngài đã hứa với Đức Chí-Tôn.
Nhưng khi Ngài Luyện-Đạo rồi thì lại thất hứa với Chí-Tôn mà từ chối Ngôi Vị Giáo-Tông để làm Anh Cả mà dìu dẫn chúng sanh theo đường Đạo và đường Đời.
Do đó làm Chí-Tôn buồn và Đức Ngô tự tách ra.
Mà sau này Đức Ngô tưởng là Chí-Tôn đã quên Ngài, nên Ngài mới nói :
Thầy chẳng quên Ta. Chẳng đặng nhiều lời....
 
Q

QuanTriVien1

Guest
<link rel="File-List" href="file:///C:/Users/Admin/AppData/Local/Temp/msoclip1/01/clip_filelist.xml"><!--[if gte mso 9]><xml> <w:WordDocument> <w:View>Normal</w:View> <w:Zoom>0</w:Zoom> <w:DoNotOptimizeForBrowser/> </w:WordDocument> </xml><![endif]--><style> <!-- /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-parent:""; margin:0cm; margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:12.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-font-family:"Times New Roman";} p.talk, li.talk, div.talk {mso-style-name:talk; margin-right:0cm; mso-margin-top-alt:auto; mso-margin-bottom-alt:auto; margin-left:0cm; mso-pagination:widow-orphan; font-size:12.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-font-family:"Times New Roman";} @page Section1 {size:612.0pt 792.0pt; margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt; mso-header-margin:36.0pt; mso-footer-margin:36.0pt; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} --> </style>Thưa Quý thành viên diễn đàn,
Thưa Hiền hữu có tài khoản Hoàn Không,
Sau khi xin ý kiến của các QTV về Nội dung cũng như tài khoản của các thành viên tham gia chủ đề "Kính mừng Lễ giáng sanh Đức Hộ pháp Phạm Công Tắc" đã có dấu hiệu Vi phạm Nội quy diễn đàn, nay QTV1 thông báo như sau:
1. Phục hồi hoạt động đối với tài khoản Hoàn Không.
2. Di chuyển các bài viết có nội dung được xem là quá tầm kiểm soát của các QTV.
3. Thông báo:
Xin được nhắc nhở cùng tất cả Quý thành viên rằng: Diễn đàn được xây dựng, tồn tại và hoạt động đựa vào hành lang pháp lý là Thánh ngôn hiệp tuyển, Pháp chánh truyền, Tân luật cùng nhiều Thánh ngôn khác trên tinh thần "thuần chân vô ngã" để phục vụ chư Huynh tỷ đệ muội trên hoàn cầu này; giao lưu, học hỏi Đạo học, kết nối tình Huynh đệ Cao Đài và những điều tốt đẹp nhất có được.
Rất mong Quý thành viên cẩn trọng hơn trong việc đăng bài để tránh các sự cố đáng tiếc như đã xảy ra.
Vui lòng đọc lại một hoặc nhiều lần Nội quy diễn đàn Tuổi Trẻ Đại Đạo để biết rõ hơn.
Trân trọng.
Quản trị viên 1 - Thành viên Ban Quản trị diễn đàn.
(Bài viết sẽ được di chuyển trước 72 giờ tới)
 
Ngày 5 tháng 5 năm Canh Dần (16/6/2010) tại Hộ Pháp Đường- Tòa Thánh Tây Ninh, Hội Thành đã tổ chức một bữa tiệc nho nhỏ kính mừng ngày giáng sinh Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc.
Ở đây chỉ là một bữa tiệc đơn giản để tưởng nhớ ngày sinh nhựt Đức Ngài chứ không tổ chức trọng thể vì tuân theo Thành huấn của Đức Ngài.

Cùng ngày, tại Báo Ân Từ, đã tổ chức lễ Chánh tế, phụ tế, cầu siêu cho hiền huynh Giáo Hữu Ngọc Hinh Thanh 89 tuổi, quy vị ngày 4 tháng 5 năm Canh Dần (15/6/2010).

Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát !
 

Phụng Thánh

New member
Là Tín-Đồ Đạo Cao-Đài thì phải biết Đức Ngô Minh Chiêu là chơn linh một vị Phật hạ phàm . Nhưng từ ngày Đức Ngài không nghe lời dạy của Đức Chí Tôn mà từ chối Ngôi vị Giáo-Tông thì phải suy-xét . ( Ở thế nầy con cải lời Cha, Mẹ, mình hiểu Đạo, mình có chơi với người đó không ? )

Hoàn Không ôi !
Phải tế nhị đệ ạ !
 

Phụng Thánh

New member
Các HTDM mến

Trong lý Đạo rất bao la, nhiều khía cạnh . . . Vào Diễn Đàn tuy rằng tự do ngôn luận, nhưng người có Đạo phải khác người đời . . . Phải viết sao cho người đọc : Thương Mến - Lời viết Phải Có Ích .
Đây là ý kiến thô thiển, mong chư Hiền thông cảm, nếu có gì phật ý !
 
Rất hoan hỉ đại ý của Lão huynh Phụng Thánh!
Kính đạo huynh!
Kính chư huynh tỷ đệ muội!
Nhân sinh hà xứ bất tương phùng ! Vả lại Đức Ngô Đại Tiên dù gì thì cũng là bậc Tiền bối, là người đệ tử đầu tiên của Đức Cao Đài. Do vậy, thiết nghĩ, là tín đồ Cao Đài nên một lòng suy tôn Đức ngài ho phải đạo.
Vài lời kính tường !
 

Hao Quang

New member
Kính mừng ngày giáng linh của Đức Hộ Pháp! Xin đức Ngài Phò trì cho các bậc hướng đạo ở Tây Ninh cũng như các bậc hướng đạo tất cả các hội thánh sức khỏe, trí tuệ để dạy cho bậc Hậu bối biết yêu thương, hòa thuận, dìu bước nhau trên bước đường về!
<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:eek:ffice:eek:ffice" /><o:p> </o:p>
Kính thưa Huynh Hoan Khong! Q thấy Huynh Hoan Khong ít viết nhưng mỗi khi viết ra câu văn tuy ngắn khiến Q phải si nghĩ rất nhiều!
<o:p> </o:p>
Q kính phục tất cả các bậc tiền bối vì Thầy vì đạo đã hi sinh để cơ đạo ngày môt hanh thông! Ngài Ngô, Ngài hộ pháp cũng là một trong số đó!
<o:p> </o:p>
Ngài Hộ Pháp cùng nhiều bậc tiền bối đã có công khai phá rừng hoang – ngài thông công cùng các đấng tạo nên Tòa Thánh cao đài! Ngài cũng có công lập phạm môn để bảo vệ tòa thánh và rất nhiều bài thi, văn dạy nhơn sanh biết sống yêu thương, hòa thuận công đức ấy thật vô lượng! đáng để Hậu bối soi theo!
<o:p> </o:p>
Về phần vô hình thì khi nào mình chết thì mới biết được! Q không dám luận biện này nọ! chỉ biết sống cho tốt hiện tại này mà thôi!
Về phần Hữu hình ai cũng biết đức Ngô là vị đệ tử đầu tiên của Đạo Cao đài! Ngài cũng như bao vị tiền bối vì đạo vì thầy là tấm gương cho Hậu bối như Q học hỏi và phấn đấu!
<o:p> </o:p>
Ngài để lại cho đời hình ảnh vị quan thanh liêm – chính trực! “phải biết tiện tặn mà ở đời cho khỏi tiếng xấu hổ, áo vải mà no bụng khỏi bị ai kêu réo đòi nợ là tốt trong đời” (câu di ngôn của Ngài Ngô)<o:p></o:p>
<o:p> </o:p>
ngài để lại cho đời phép “nhãn tạng – hồi quang phản chiếu” về tâm pháp! Như ta biết cơ đạo mình có 2 phần: phổ độ và tâm pháp! Kết hợp hai cái này thì thành Đạo! ngài đã đắc đạo tại thế trên sông tiền ứng với 2 câu thi” giờ này Thầy điểm thâm công – ngày sau con sẽ cởi rồng về nguyên” sự đắc đạo của Ngài ứng nghiệm rằng Đạo Cao Đài là đạo tu giải thoát! Giả sử đức Ngài chưa đắc đạo tại thế thì con cái Đức chí tôn dựa vào gì để tin rằng Cao Đài là nơi để tu cầu giải thoát đây?? Hiện nay trong tất cả các Hội Thánh – Thánh Thất Cao Đài đều thờ thiên nhãn! Nên không ngẫu nhiên Thầy truyền phép nhãn tạng cho đức Ngô!
<o:p> </o:p>
Ngài ngô tu tâm pháp thì mọi sự có thể nhìn những vấn đề xa hơn những vị chưa tu tâm pháp! Vấn đề ở Tây Ninh phải chăng là một trong số đó?! Ngài không hề liên lạc với Tây ninh nhưng ngài cũng nhờ bạn đạo của Ngài đi truyền đạo! thời đó ai cũng biết đức Ngô là đệ tử đầu tiên của Cao Đài, một vị quan mà theo đạo cao đài lại càng nổi tiếng! nên nhất cử - nhất động của Ngài đều bị theo dõi! Ngài không hề liên lạc với Tây Ninh phải chăng ngài nhận biết điều gì đó sẽ xảy ra nếu Ngài về Tây Ninh thì sao?? Những năm sau đó Tây Ninh xảy ra nhiều biến cố! …….
<o:p> </o:p>
Thôi thì những người như Q là Hậu bối! về Đạo vẫn đang chập chững !thấy một cuốn sách hay mà đọc để nghiên cứu học hỏi! nhưng ai hỏi chỉ vì ngài không nhận chức Giáo tông mà Thầy ban cho Ngài mà lại phủ nhận, không nhìn nhận những công sức của Ngài đối với nhơn sanh thì thật là đáng tiếc! chưa đúng với sở nguyện của Thầy: “cùng nhau một đạo tức một cha”
<o:p> </o:p>
Q kính trọng đức ngài Hộ Pháp Phạm Công Tắc! Cái danh của Ngài đã được toàn thể con cái đức chí tôn ghi nhận, cái vị bây giờ ngài cũng an hưởng rồi! vậy chúng ta cần gì phải ca ngợi nữa?? như Thầy từng dạy “ Bạch Ngọc từ xưa đã ngự rồi, đâu cần hạ giới dựng cao ngôi, sang hèn trối mặc tâm là quý! Tâm ấy tòa sen của lão ngồi” …Thầy Thượng đế đã dạy vậy chẳng lẽ đức Ngài Hộ Pháp lại thích nghe những lời ấy sao?
HTĐM luôn ca ngợi vậy HTĐM muốn khẳng định điều gì???
<o:p> </o:p>
Đối với Q về hữu hình giáo chủ hay không giáo chủ thì sao?? Đó chẳng qua là cái tên thôi! Q chỉ biết có một đức Cao Đài là Giáo chủ Cao đài giáo thôi! Còn đức Phạm công tắc thì hậu bối tôn ngài là Đức Hộ Pháp, Ngài Ngô là Đại Tiên đúng như những bài giáng cơ mà đức Ngài đã viết ở các hội thánh! vậy HTĐM mong gì hơn??
<o:p> </o:p>
Nhân ngày sinh nhật Đức Hộ Pháp Như Tỷ VKH từng viết: “Ở đây chỉ là một bữa tiệc đơn giản để tưởng nhớ ngày sinh nhựt Đức Ngài chứ không tổ chức trọng thể vì tuân theo Thành huấn của Đức Ngài.”
<o:p> </o:p>
<o:p> </o:p>
Q nghĩ chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ thể hiện cái tâm của mình với đức Ngài rồi! không món quà nào quý giá hơn khi dâng cho đức Ngài Hộ Pháp nhân ngày sinh nhật của mình là : “có hòa thì có hiệp, có hiệp tất có định, có định tất có an” không hiều sao khi nhắt tới đức Ngài Q lại thuộc nằm lòng những câu này! Hihi rất vui vì những bài viết của Huynh Phụng Thánh và Tỷ VKH!
 

Facebook Comment

Top